PDA

View Full Version : Câu hỏi và câu trả lời về môn Triết học Mác - Lênin


levinhphuc
01-30-2006, 04:15 PM
Nhân dịp đầu xuân năm mới, sau khi 1 ngày vất vả với những chén và ly, em post tặng các bác loạt bài hướng dẫn giải đáp về các câu hỏi bài tập điều kiện môn TRIẾT HỌC.


Chúc các bác sang năm mới, dồi dào phúc lộc!


---------------------------------------


Vật chất với tư cách là phạm trù triết học đã có lsử khoảng 2500 năm. Ngay từ khi mới ra đời, xung quanh phạm trù v/c đã diễn ra cuộc đấu tranh không khoan nhượng giữa chủ nghĩa dtâm và chủ nghĩa dvật. Đồng thời, giống như nhiều phạm trù triết học khác, phạm trù vật chất có qtrình psinh và phát triển gắn liền với hoạt động thực tiễn của con người và với sự hiểu biết của con người với giới tự nhiên.


Theo Lê nin, phạm trù vật chất là một ptrù rộng đến cùng cực, rộng nhất, mà cho đến nay, thực ra nhận thức luận vẫn chưa vượt qua được. Lê nin đã định nghĩa vật chất như sau:


vật chất là 1 ptrù triết học, dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta sao chụp lại, phản ánh và tồn tại không phụ thuộc vào cảm giác


Định nghĩa vật chất của Lênin có3 nội dung:


- Phạm trù này được sử dụng với tư cách là 1 ptrù triết học chứ ko phải là phạm trù của các khoa học chuyên ngành


- Với tư cách là ptrù triết học thì vật chất đươc hiểu là tất cả những gì tồn tại khách quan.


- Các tồn tại khách quan được con người nhận thức được, phản ánh được.


Ý nghĩa của định nghĩa v/c của lênin:


- Lần đầu tiên trong lsử, lênin đã đưa được đ/n vật chất đúng nghĩa với tư cách là ptrù triết học.


- Từ định nghĩa đó xác lập tiêu thức căn bản nhất trong việc ngcứu khoa học, để xđịnh cái gì là vật chất và cái gì là ko phải.

















Edited by: levinhphuc

levinhphuc
01-30-2006, 04:30 PM
Ý thức của con người có 2 nguồn gốc:


- Nguồn gốc tự nhiên:


Nguồn gốc tự nhiên của ý thức được hiểu là qtrình phát triển của giới tự nhiên trải qua các trình độ khác nhau và trình độ cao nhất của nó là xuất hiện con người với 1 cấu trúc hoàn thiện, tức là tạo ra cơ chế tự nhiên cho sự hthành của ý thức. Nói như Lênin, bộ não của con người là "khí quan vật chất".


Cn dtâm cho rằng, ý thức có trc, vật chất có sau, ý thức sinh ra và chi phối sự vđộng, tồn tại của vật chất. các nhà dtâm trước Mác đã đấu tranh phê phán lại qđiểm trên của chủ nghĩa dtâm, ko thừa nhận tính siêu tự nhiên của ý thức và chỉ ra mối quan hệ khăng khít giữa vật chất và ý thức. Dựa trên cơ sở những thành tựu khoa học tự nhiên, các nhà dvật đã đưa ra các luận điểm khẳng định và phản bác ý kiến của các nhà dtâm.


-Nguồn gốc xã hội:


Nguồn gốc xã hội của ý thức là tổng thể các ntố xã hội nhưng trực tiếp và qtrọng nhất là lđ và ngôn ngữ. Ăngghen nói, đây là 2 ntố qđịnh hình thành nên ý thức con người.


Lđ theo Mác là 1 qtrình dbiến giữa người với tự nhiên, 1 qtrình trong đó bản thân con người đóng vtrò môi giới điều tiết và giám sát sự trao đổi vật chất giữa con người với tự nhiên. Sự hthành ý thức ko phải là qtrình thu nhận thụ động mà đó là kết quả hđộng chủ động của con người thông qua lđ.


Ngôn ngữ là do nhu cầu của lđ, nhờ lđ mà hthành. Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất mang nội dung ý thức. ko có ngôn ngữ thì ý thức ko thể tồn tại và thể hiện được.

levinhphuc
01-30-2006, 04:35 PM
Cái này có ở câu 18 của tài liệu hướng dẫn ôn thi môn triết học rồi!


Download tài liệu tại đây


http://www.e-ptit.edu.vn/sv/upload/forum/zip/8D48C_Huong_dan_on_thi_mon_triet_hoc.rar (http://www.e-ptit.edu.vn/sv/upload/forum/zip/8D48C_Huong_dan_on_thi_mon_triet_hoc.rar)


http://www.e-ptit.edu.vn/clbsv/images/smileys/smiley4.gif Edited by: levinhphuc

levinhphuc
01-30-2006, 04:47 PM
OH!


Tớ chẳng chịu ngâm cứu gì cả, loay hoay một lúc thì lại phát hiện ra là mấy câu hỏi của bài tập điều kiện thì lại có trong tài liệu hướng dẫn ôn tập mất rồi:


Các bạn chịu khó download tại đây nhé:


http://www.e-ptit.edu.vn/sv/upload/forum/zip/8D48C_Huong_dan_on_thi_mon_triet_hoc.rar (http://www.e-ptit.edu.vn/sv/upload/forum/zip/8D48C_Huong_dan_on_thi_mon_triet_hoc.rar)

phongtt
02-01-2006, 10:55 PM
củm ơn nhiều nghen, có post tiếp hỉ

hangptt105qt229
02-04-2006, 04:27 PM
le vinh phuc cho em hoi co phai cau hoi bai tap dieu kien la bai thu hoach mon hoc hoc phan khong va bai do co pha lop cho co khong xin giup erm


em cam on

levinhphuc
02-05-2006, 11:15 PM
le vinh phuc cho em hoi co phai cau hoi bai tap dieu kien la bai thu hoach mon hoc hoc phan khong va bai do co pha lop cho co khong xin giup erm


em cam on








Đúng là nó đấy!

thuynt105qt289
02-09-2006, 08:29 PM
Bai tap DK mon triet khong biet co phai viet toi thieu 10 trang ko nhi?

levinhphuc
02-10-2006, 10:09 AM
Chắc chắn rùi!


Chỉ có bài Kinh tế chính trị là viết bằng tay và tối thiểu 8 trang thui!

thanhlx105qt574
02-19-2006, 05:15 PM
http://www.huflit.edu.vn/kml/lebach/index.php#


Trong này có Triết học Mác-Lênin

anhttk105qt033
03-03-2006, 11:43 AM
le vinh phuc cho em hoi co phai cau hoi bai tap dieu kien la bai thu hoach mon hoc hoc phan khong va bai do co pha lop cho co khong xin giup erm


em cam on








Đúng là nó đấy!

anhttk105qt033
03-03-2006, 11:50 AM
bạn ơi, sao file "Hướng dẫn ôn thi môn triết học" của bạn không mở được vậy, bạn hướng dẫn cho mình với- cảm ơnhttp://www.e-ptit.edu.vn/clbsv/images/smileys/smiley7.gif

ngantt
03-05-2006, 01:14 PM
Bác levinhphuc dùng WinRAR nén file đó, bạn phải cài WinRAR để giải nén(bạn nên mạng search WinRAR về cài), sau đó cài tiếp acrobat để đọc nhéhttp://www.e-ptit.edu.vn/clbsv/images/smileys/smiley2.gif

levinhphuc
03-06-2006, 12:10 PM
Bạn có thể tải winrar tại đây: http://www.vnmedia.vn/NewsDetail.asp?Catid=33&NewsId=3944


Và bộ acrobat reader thì bạn xem lại mình đã đưa địa chỉ lên mạng rồi đó: http://www.mpi.gov.vn/trogiup.aspx

dinhhang
03-22-2006, 05:03 PM
http://www.cpv.org.vn/leader_topic.asp?topic=3&subtopic=90&leader_topic= 6

dinhhang
03-22-2006, 05:08 PM
Còn đây là tài liệu của CCác MÁc và Ănghen: ( cũng hơi bị dài)http://www.e-ptit.edu.vn/clbsv/images/smileys/smiley5.gif


Các Mác:http://www.cpv.org.vn/leader_topic.asp?topic=3&subtopic=88&leader_topic= 2


Ăngghen:http://www.cpv.org.vn/leader_topic.asp?topic=3&subtopic=89&leader_topic= 4

LamPT
04-03-2006, 11:27 AM
<TABLE cellSpacing=0 cellPadding=0 width="100%">
<T>
<TR>
<TD style="PADDING-BOTTOM: 5px; PADDING-TOP: 7px">


Thực tiễn xây dựng CNXH trên quy mô hệ thống ngày càng bế tắc đã thức tỉnh cơn mê suốt nửa thế kỷ của triết học macxit và lên tiếng kêu gọi đổi mới.


Đại hội VI Đảng CSVN (1986) đã đáp ứng lời kêu gọi bức thiết đó, tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, làm nên bước ngoặt lịch sử trong nhận thức cũng như hành động của cách mạng Việt Nam, mở ra hướng mới cho triết học. Hướng mới đó là: Nhìn thẳng vào sự thật, phản ánh đúng bản chất thế giới và hành động trên cơ sở quy luật khách quan.


Triết học đã đột phá vào thành trì quan niệm triết học cũ, thứ triết học hoàn toàn thỏa mãn với cách đi hiện đại: cho rằng, triết học macxit đã tuyệt đối đúng và hoàn thiện, nên nó là khuôn mẫu cho mọi tư duy, mọi cái đã được triết học đó an bài, nên nó cũng là cơ sở bất di bất dịch cho mọi hành động.


Giới triết học Việt Nam đã hướng theo cách nhìn mới, cố gắng phá tan cách xem là sự vật và hiện tượng một cánh xơ cứng, tĩnh tại, siêu hình, một chiều, nhìn thế giới (tự nhiên - xã hội - tư duy con người) một cách uyển chuyển và sinh động cho sát hợp với bản nhất và sự vận động biện chứng của nó.


Từ đó, các nhà triết học đã nhận thức lại bản thân triết học Mác - Lênin nhằm tìm ra cái đúng, cái phù hợp và cái không còn phù hợp, khả năng và triển vọng của học thuyết đó đối với sự phát triển của xã hội loài người.


Nhiều công trình đã nghiên cứu lại mô hình CNXH và lý thuyết xây dựng CNXH, xác định lại sự vận dụng lý thuyết macxít vào thực tiễn, tìm ra nguyên nhân trì trệ và bế tắc của sự nghiệp cải tạo xã hội, khắc phục chủ nghĩa giáo điều và tính năng với chủ quan duy ý chí, bất chấp quy luật khách quan trong xây dựng xã hội mới XHCN.


Phải nói rằng, tinh thần triết học mới đã truyền sức sống vào mọi lĩnh vực đời sống xã hội, nhận thức cũng như hành động, lý luận cũng như thực tiễn, nghiên cứu, giảng dạy cũng như học tập. Chỉ 5 năm đổi mới, triết học Việt <st1:place w:st="on"><st1:country-region w:st="on">Nam</st1:country-region></st1:place> đã tạo ra một không khí tinh thần mới, đặc biệt là một văn hóa triết học mới vượt hẳn về chất so với nửa thế kỷ triết học vừa qua của chúng ta. Thành quả đó đã góp phần cùng với các lĩnh vực khoa học khác kiến tạo nên một hệ thống quan điểm mới cho cương lĩnh xây dựng đất nước và chiến lược phát triển kinh tế đã được Đại hội VII Đảng CSVN (1991) thông qua.


Tuy nhiên, so với đòi hỏi nghiêm khắc của cuộc sống, cụ thể là thực trạng xã hội ta hiện nay, thành quả đó mới chỉ là bước đầu, chỉ mới tạo bước ngoặt về phương hướng và tiền đề lý luận cho cách mạng Việt <st1:place w:st="on"><st1:country-region w:st="on">Nam</st1:country-region></st1:place>.


Quá trình đổi mới, sau khi vạch ra những hạn chế về mặt lịch sử của triết học macxít, sự hiểu biết nông cạn và sai lệch của chúng ta về học thuyết đó, phê phán mô hình CNXH khô cứng, lệch lạc và giản đơn do ta dựng lên với cách tiếp cận ấu trĩ tới mô hình lý tưởng, chúng ta đã khẳng định hạt nhân đúng đắn của phép biện chứng, thế giới quan và phương pháp luận của triết học macxit, chúng ta khẳng định chủ nghĩa Mác Lênin cho đến nay vẫn là học thuyết tiến bộ nhất, chưa một học thuyết nào cóthể thay thế, nó là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho suy nghĩ và hành động cách mạng của chúng ta. Điều có ý nghĩa quyết định vận mệnh dân tộc là chúng ta đã chọn được mục tiêu lý tưởng duy nhất đúng - con đường XHCN. Đó là con đường phù hợp với lý tưởng cao qúy nhất của con người. Dù hiện nay kẻ thù đang tìm mọi cách tiêu diệt, nhân dân ta quyết tâm thực hiện nó. Nhưng để thực hiện CNXH, chúng ta không thể làm theo lòng mong muốn mà phải trên cơ sở khoa học. Hoàn thiện lý luận về mục tiêu lý tưởng và lý luận cho việc thực hiện mục tiêu đó hiện đang là nhiệm vụ hóc búa và nặng nề mà triết học phải tập trung giải quyết.


Như chúng ta thấy, giữa mục tiêu lý tưởng và hiện thực, giữa lý thuyết và thực tiễn xây dựng CNXH còn là một khoảng cách rất xa và nhiều chỗ trống chưa được luận giải đầy đủ.


CNXH là gì? Nội dung của nó mới chỉ được nêu lên bằng những nét đặc trưng, đi tới CNXH như thế nào? Đối với chúng ta không chỉ mới là những tìm tòi và thử nghiệm. Khả năng thực hiện CNXH còn rất nhiều khó khăn và bao nhiêu vấn đề mà không phải ai cũng đã hoàn toàn tin tưởng, nhất là trong tình trạng đổ vỡ hiện nay. Những vấn đề như tính tất yếu của CNXH trong tiến trình lịch sử, tính ưu việt và mức sống của nó liệu đã được chứng minh cận kẽ? Vấn đề công hữu nguyên tắc có bản chất của CNXH với vấn đề động lực bên trong của sự phát triển xã hội. Vấn đề sở hữu tập thể và cơ chế thị trường thống nhất với nhau ra sao? Vấn đề con người xã hội và con người tự nhiên, cá nhân với cộng đồng, những khả năng của con người. Vấn đề cơ chế xã hội mới và sự chuyển dịch các hệ chuẩn giá trị có biết bao vấn đề cần bàn mà chỉ giải quyết được chúng về lý luận mới xây dựng được xã hội trên thực tế. Nhưng hình như triết học còn nhiều chỗ mới chấp nhận chứ chưa lý giải một cách khoa học triệt để và thuyết phục. Có thể nói, chúng ta mới chỉ quan tâm giải quyết những vấn đề bộ phận, những khía cạnh hoặc cao hơn là hệ vấn đề mà còn ít đi vào bản chất của hệ thống.


Hạn chế căn bản nhất trong nghiên cứu triết học của ta hiện nay vẫn là ở chỗ, hoặc là chưa đủ sức, hoặc là chưa thật sự dám đi thẳng vào bản chất sâu xa nhất của đời sống hiện thực, đặt mới, thậm chí đặt ngược lại những vấn đề tưởng đã an bài", những vấn đề do khoa học hiện đại khám phá, chưa giám mở ra cách tiếp cận mới đối với những vấn đề thời đại để tìm ra thực chất của chúng, tạo bước chuyển lớn hơn trên có phương diện lý thuyết lẫn thực tiễn. Ở đây tư duy tiểu nông, tư duy kinh nghiệm và nhất là tư duy phương Đông chuyên chế - loại tư duy định hình cái chính thống, kéo níu những thiên kiến và những ký ức về cái đã qua (V.I.Lênin), do dự trước đã khác thường, mới lạ - có lẽ vẫn là một trong những cái hạn chế tư duy biện chứng phóng khoáng.


Nhìn xu thế phát triển thời đại với những khả năng mới do khoa học hiện đại khám phá, có lúc chúng ta muốn mở ra những cách tiếp cận táo bạo hơn trong triết học. Nhưng sự thử nghiệm lý luận không phải là việc giản đơn. Cho nên sự chờ đợi chỉ đạo từ bên trên, tư tưởng cầm chừng và vô thưởng vô phạt thể hiện không ít trong nghiên cứu triết học. Nhiều vấn đề của các lĩnh vực triết học thế giới các thời đại, các chính thể xã hội khác nhau bị đối xử chưa thoả đáng: Chỉ đóng khung trong triết học Mác Lênin, ít quan tâm đến các nền và các trường phái triết học khác như triết học phương Đông và triết học dân tộc, đối với triết học phương Tây thì chỉ có phê phán. Những vấn đề triết học toàn cầu có tính nhân loại như sự xích lại giữa các nền văn hóa dường như đang làm ta sợ liên lụy. Những hiện tượng về tự nhiên, con người, các khả năng phát triển xã hội hết sức mới lạ đối với tư duy truyền thống... đang bị chúng ta né tránh!


Tình trạng kể trên làm cho bản thân triết học vốn phong phú trở nên nghèo nàn, đơn điệu, dù đã một bước đổi mới, vẫn cực đoan, biệt phái. Tính tiên phong dẫn đường nhường chỗ cho sự chờ đợi diễn biến thực tiễn. Sự chờ đợi và "tự kiểm duyệt cho phù hợp với cái chính thống kìm hãm tính năng động sáng tạo của triết học và làm cho ở ta không thể có những khám phá đáng kể trong triết học, chưa có những đóng góp quyết định cho sự hoạch định đường lối của Đảng và Nhà nước, chưa tạo bộ mặt riêng của triết học Việt Nam để nó có sức nặng đối với niềm tin và thực tiễn.


Để đáp ứng được yêu cầu thực tiễn, phải xác định đổi mới không phải là chuyển cái cũ sang cái mới, mà là cái sai sang cái đúng. Có nghĩa, đổi mới triết học là làm cho triết học thực sự là chính mình.


Trước sự tan rã của hệ thống XHCN, một câu hỏi có tính phổ biến đặt ra không chỉ từ những người ngoại giao mà cả những nhà lý luận macxit là: Hiện nay triết học còn làm được gì? Câu hỏi đó thực chất cũng là câu trả lời: triết học = chính trị, xã hội bế tắc, triết học cũng bế tắc. Sự thực, đó là sự mơ hồ về bản chất, tìm ra quy luật chung nhất của thế giới. Một mặt nó phản ánh bản chất, tìm ra quy luật tồn tại, vận động và phát triển của thế giới. Mặt quan trọng hơn, nó nắm lấy quy luật vận động và phát triển của thế giới để cải tạo thế giới, xây dựng thế giới mới theo mục đích chân chính của con người.


Như vậy triết học vừa phụ thuộc, lại vừa độc lập với thế giới khách quan. Nó xây dựng trên hệ thống quan điểm chung về thế giới, trong đó quan trọng nhất là hệ thống lý thuyết về xã hội. Triết học khoa học là tìm ra đúng quy luật vận động của xã hội, vạch ra con đường đúng cho xã hội đi lên.


Xã hội bế tắc do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan. Bế tắc hướng đi là sai lầm chủ quan: chính trị và khoa học chưa kết hợp được với nhau để xác định đúng đường lối. Ngay trong trường hợp này cũng không thể nhầm lẫn đó là bế tắc của bản thân triết học, mà là của quan điểm triết học. Chính tình thế đó đặt ra cho triết học những vấn đề sâu sắc, nóng bỏng và hấp dẫn nhất vì nó phải giải quyết những vấn đề bức bách và trọng đại: phải vượt qua bế tắc xã hội. Muốn vậy triết học phải phát huy cao độ tính năng động sáng tạo và khám phá. Nhiệm vụ của triết học lúc đó là phải xác đinh lại bản chất xã hội, vạch ra hướng phát triển xã hội đúng với tất yếu khách quan. Vai trò của triết học lúc đó càng to lớn, nó quyết dinh sợ tháo gỡ bế tắc, tạo ra động lực phát triển xã hội.


Triết học của ta hiện nay đang trong tình huống tương tự phải phát huy tòan bộ tính năng động sáng tạo của mình nhưng không phải chỉ để giải tỏa bế tắc, mà để giải tỏa tiềm năng triết học nhằm giải phóng toàn bộ tiềm năng xã hội.


Thực hiện nhiệm vụ đó phải là vấn đề tổng hợp của tất cả các yếu tố, các điều kiện khách quan và chủ quan. Nhưng từ những tồn tạii đã phân tích ở trên, ta thấy yếu tố quyết định sự giải phóng tiềm năng triết học trước hết là yếu tố tinh thần và những điều kiện bên trong của triết học.


Chỉ có thế giải phóng tiềm năng triết học khi quan niệm đúng bản thân triết họ, xác định đúng chức năng và nhiệm vụ của nó trong xã hội. Phải sử dụng triết học như một tổng trí thức toàn diện và tiên tiến nhất của loài người với tư cách thế giới quan, phương pháp luận làm chức năng khám phá thế giới, mà thế giới quan, phương pháp luận và phép biện chứng macxit là công cụ sắc bén nhất. Còn bản thân triết học phải hoạt động như một khoa học thực thụ giải thích và cải tạo thế giới trên cơ sở bản chất, tồn tại và vận động của nó.


Việc thuyết minh những luận điểm chính trị không thể là sự phụ họa vô căn cứ (làm như vậy lợi ít hại nhiều) mà phải làm r cơ sở khoa học của chúng. Lý luận không thể đi sau mà luôn bên cạnh thực tiễn dễ trả lời đúng những vấn đề thựa tiễn đặt ra, luận giải toàn bộ hệ thống vấn đề mà giữa lý luận và thực tiễn đang mắc míu.


Chứng minh CNXH như là quy luật tất yếu của lịch sử tự nhiên thực chất là chứng minh tính đúng đắn của Mác-Lênin, bảo vệ CNXH một cách vững chắc nhất, thuyết phục nhất. Học thuyết Mác - Lênin có sinh khí hay không, có đánh bại được những học thuyết đối lập hay không. Có sức cuốn hút loài người hay không, không thể bằng những lời tuyên bố của uy quyền, cũng không thể lảng tránh hay bào chữa những vấn đề đang mắc míu, mà phải xông vào những mắc míu để tháo gỡ và chứng minh cho được cái tất yếu của nó. Đó chính là sự nhìn thẳng vào sự thật và tôn trọng quy luật khách quan. Và cũng chỉ có thể phát triển triết học macxit bằng cách đó.


Điều quan trọng hơn của triết học là nó không chỉ luận giải, chứng minh thực tại mà bằng biện chứng phát triển, nó phát hiện, đề xuất những vấn đề mới, vạch ra những khả năng, dự báo những thuận lợi và trở ngại, vạch hướng tối ưu cho tương lai loài người.


Sự né tránh hay sự "tự kiểm duyệt" sẽ là hố sâu không thể vượt qua trong việc giải phóng tiềm năng, thực hiện sứ mệnh của triết học. Đối với khoa học, sự thật vẫn phải là sự thật dù cay đắng. Bất kỳ ai dù là người lãnh đạo hay người thực hiện, đã là vì tiến bộ xã hội đều phải chấp nhận nguyên tắc đó: với tất cả tấm lòng trong sáng, táo bạo tìm tòi, dũng cảm bảo vệ cái đúng để đưa xã hội đi lên theo con đường ngắn nhất, ít trả giá nhất.


Có nghĩa, yêu cầu trên được giải quyết khi có tự do sáng tạo khoa học. Tất nhiên không phải cứ có tự do sáng tạo là lập tức có ngay những khám phá. Nhưng những khám phá chỉ có được trong tự do sáng tạo. Kết quả qúa trình dân chủ hóa đời sống xã hội của Đảng ta đã cho thấy điều đó. Ở đây có mối quan hệ rất tế nhị giữa khoa học và chính trị. Khoa học có quy luật khách quan nội tại của nó. Chính trị tiến bộ cũng phản ánh quy luật khách quan, nhưng nhiều khi còn là nghệ thuật chủ quan thực hiện mục đính xã hội. Do vậy, không phải lúc nào khoa học và chính trị cũng hàm chứa hết nội dung của nhau. Chính tri chỉ thành công khi biết dựa vào khoa học, tức vận dụng quy luật khách quan. Nhưng nếu tuyệt đối hóa mặt khoa học thuần túy của triết học thì trong xã hội, điều đó là không hiện thực. Bởi triết học cuối cùng là vì con người, chân lý triết học do vậy, nói đến cùng là chân lý nhân bản. Để phát triển xã hội, triết học phải khám phá hiện thực dù những khám phá có trái với ý muốn chủ quan, nghĩa là nó cần tự do sáng tạo. Nhưng mặt khác, tự do sáng tạo của triết học lại là tự do trong vùng chân lý nhân bản.


Sáng tạo không chỉ phụ thuộc vào không khí tự do, lòng dũng cảm, tinh thần táo bạo, không thể là sự hăng say của lý tính" mà phải là lý tính của sự hăng say. Sự hăng say của lý tính sẽ không khỏi lúng túng trước những diễn biến phức tạp của thực tiễn. Lý tính của sự hăng say đã có được khi mà phục trình độ thấp kém của bản thân mỗi nhà triết học, nghiên cứu lại và tiếp thu thật sâu sắc triết học Mác Lênin, nắm chắc phương pháp phát triển biện chứng học thuyết triết học qua việc đúc kết toàn bộ diễn biến thực tiễn của Mác, Ăngghen, Lênin, xây dựng một hệ thống triết học có sự bổ sung, đổi mới về tri thức, khái niệm, phạm trù và tạo ra những tiến bộ trong triết học.


Chỉ số tiến bộ của triết học thể hiện căn bản ở tiến bộ tư duy triết học. Nói đổi mới triết học mà chỉ đổi mới các vấn đề và hệ vấn đề thì hiệu quả cũng chỉ làm thay đổi kết cấu chứ không thể chuyển biến hệ thống về chất. Thay đổi về chất trong tiến bộ loài người chính là tiến bộ về trí tuệ - từ cấp độ trí tuệ thấp lên cấp độ cao hơn. Mỗi cấp độ trí tuệ đó thể hiện một cách tư duy mới tiến bộ hơn. Tư duy mới là yếu tố xã hội cấp bách đối với tiến bộ loài người.


Tư duy triết học phải vận động giữa hai cực: Một cực nó gắn với cuộc sống hiện tại, cực kia vượt ra ngoài giới hạn của thực tại đó vạch ra những "đề án" đặc biệt của các cơ cấu xã hội và thế giới tinh thần, làm cơ sở cho sự phát triển tương lai của văn hóa. Theo nghĩa đó triết học vừa như thực chất của văn hóa hiện có, đồng thời như là hạt nhân ý nghĩa của văn hóa tương lai, một khoa học đặc biệt và "những thế giới có thể có của con người". Bỏ đi mặt nào trong hai khả năng ấy đều dẫn triết học tới suy đồi hoặc sự rèn luyện lý luận rỗng tuếch tách rời cuộc sống, hoặc thành một hệ thống huyền thoại biện hộ cho hiện thực không có khả năng phê phán.


Chỉ có những bước tiến tư duy khi xem triết học như một hệ thống mở vô tận, phát triển theo từng bước đi lên không ngừng của sự chuyển chất trí tuệ nhân loại, không biến nó từ cái vốn là vô hạn thành cái hữu hạn, phá vỡ khuôn mẫu, cái màng bọc chính thống, phê phán, gạn lọc và trên cơ sở chính thống mà đón nhận những nhân tố mới, những chất trí tuệ mới với phương pháp tiếp cận mới.


Tiếp cận triết học không thể là cứng nhắc một chiều mà là tiếp cận hệ thống, đa chiều với toàn bộ văn minh mọi thời đại, mọi nền văn hóa theo tinh thần các cấp độ phát triển như vũ bão của khoa học- công nghệ của thế giới hiện nay. Chỉ như vậy, triết học mới thực sự trở thành công cụ sắc bén nhất cho những mục đích cao cả của con người.</TD></TR>
<TR>
<TD style="PADDING-RIGHT: 5px" align=right height=22>Theo Tạp chí Triết học</TD></TR></T></TABLE>Phó TS Nguyễn Văn Huyên

phuonglinh
04-03-2006, 09:45 PM
Trời ơi, đại hội 9 đã khẳng định rùi.


Sao lại đưa những nội dung như thế này lên (từ ĐH6 mà đến ĐH9 có những cái Đảng đã phải nhìn nhận xem xét và khẳng định).


Và đạihội 10 tuy chưa xong nhưng đều vẫn khẳng định những cái đúng mà ĐH9 đã vạch ra, đồng thời vận dụng sáng tạo vào thực tiễn của cách mạng Việt Nam trên cơ sởlấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho cách mạng nước ta.


Nhận định của bộ chí trị trong NQ09-NQ 18/2/1995 là: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn duy nhất đúng.


Tranh luận về cơ sở lý luận khi chúng mình mới chỉ có những bài vỡ lòng về triết học, logic thì thấy haylắm, thích học lắm; nhưng khó lắm, chẳng hiểu gì cả (tức là học chưađủđể hành - chỉ mới có học giáo điều thôi);


Bản thân mỗi chúng ta chưa đủ miễn dịch và chưa đủ lập trương chính trị vững vàng...không cẩn thận dễ sai quan điểm, đường lối lắm đó.


Bài viết trên chỉ là một trong những bài tranh luận...cho những nhà lý luận đủ chín.


Còn chúng mình thì mới chỉ đang là cà chuẩn bị được muối sổi thui mà.Edited by: phuonglinh

dinhhang
04-05-2006, 06:11 PM
Phuong Linh à! bạn nắm vững kiến thức nhỉ? Có thể nói cho mình cách học hay lĩnh hội kiến thức môn này được không? http://www.e-ptit.edu.vn/clbsv/images/smileys/smiley1.gif

hoantc305cn369
04-06-2006, 02:03 PM
tớ đọc mà chưa hiểu là câu nào là câu hỏi câu nào là câu trả lời cả http://www.e-ptit.edu.vn/clbsv/images/smileys/smiley6.gif mệt quá cơ á

cqhung
04-06-2006, 04:35 PM
Các bạn nên cùng nhau sưu tầm tài liệu tham khảo trên tạp trí và tài liệu để cùng nhau trao đổi. Rất hoan nghêng tinh thần học tập của các bạn.

lacviet
04-06-2006, 05:30 PM
Không cần tài liệu ngoài đâu, chỉ cần hiểu hết sách đã là tốt lắm roài.


Tài liệu ngoài nhằm giúp bạn nâng trình độ và hiểu biết sâu rộng hơn thui mà.


Nếu muốn điểm 10 để được giữ lại làm giảng viên với thầy Hưng thì bạn nên tìm những vấn đề thực tế để liên hệtúm nó vào cái kết luận (liên hệ thực tế), còn không thì cho cái phương pháp luận vào là xong.


Pác vào chủ đề: QT105 A2 trao đổi môn triết học xem có giúp gì được không


Edited by: lacviet

cqhung
04-06-2006, 06:00 PM
Ghê

lacviet
04-06-2006, 06:31 PM
Gớm http://www.e-ptit.edu.vn/clbsv/images/smileys/smiley11.gif


http://www.e-ptit.edu.vn/clbsv/images/smileys/smiley13.gif


Edited by: lacviet

lacviet
04-06-2006, 06:34 PM
ùh, cái vụ này cũng phải hỏi thầy Hưng đó.


Thầy giấu mấy cái chủ đề đi đâu mà không tìm ra.

cqhung
04-07-2006, 10:02 AM
Có ai dấu đâu, tôi cũng chưa hề Del nó, em thử hỏi các Mod khác xem họ có xoá không

lacviet
04-07-2006, 11:48 AM
thầy chỉ chỗ và cách tra tìm chủ đề


tụi em tìm hoài không ra


các mod cũng nói không xoá


hay là thầytrường nhảy

lacviet
04-07-2006, 12:09 PM
http://www.e-ptit.edu.vn/clbsv/images/smileys/smiley6.gif

duongpk205cn029
05-10-2006, 01:53 PM
Đây là nội dung câu số 9 trong Bài tập điều kiện môn Triết, mình tìm thấy câu hỏi này có vẻ lý thú nên chọn để trả lời và mình đã nhầm ví nó quá là lý thú. Mình đã bám sát "sách giáo khoa" ... và đã trả lời đầy đủ, lúc đầu mình định thêm bài viết dưới này vào bài làm nhưng sợ đành post bài này để trưng cầu dân ... mạng, cùng thảo luận mổ xẻ vấn đề ....

Nếu các bạn có sách Triết bên cạnh, thì vui lòng mở chương 10 nói về Hình thái kinh tế xã hội, trang 158. Sau khi vượt qua các mục 10.1,10.2,10.3,10.4 nói về các quan hệ biện chứng giữa LLSX va QHSX, rồi đến kiến trúc hạ tầng thượng tầng gì đó, rồi đến phạm trù hình thái xã hội. Đến mục 10.5 trang 169 nơi có câu giải đáp cho câu hỏi trên. Sau một hồi giải thích mơ hồ chung chung về sự sụp đổ Liên Xô và Đông Âu những năm 80 là do "mô hình kế họach hóa tập trung". Đảng ta đã vận dụng học thuyết Hình thái kinh tế xã hội để có một chế độ XHCN đặc trưng ở Việt <st1:place w:st="on"><st1:country-region w:st="on">Nam</st1:country-region></st1:place>:

- Đó là một xã hội do nhân dân làm chủ.
-Có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu.
-Có nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
-Con người được giải phóng khỏi áp bức bóc lột, bất công, làm theo năng lực hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân.
-Các dân tộc trong nước bình đẳng, đòan kết, giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ.
-Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới.

Mình hòan tòan đồng ý, tiếp theo sách viết ... Đảng ta cũng nhận định là "con đường đi lên của Việt <st1:place w:st="on"><st1:country-region w:st="on">Nam</st1:country-region></st1:place> là phát triển quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN. Đây thực sự là một sự nghiệp khó khăn và phức tạp". Sau đó có một kết luận, mình xin trích nguyên văn như sau:

"Trong quá trình quá độ lên CNXH ở VN, cần hiểu bỏ qua giai đọan phát triển TBCN tiến lên CNXH tức là:

1. Bỏ qua hình thái kinh tế xã hội TBCN, bỏ qua chế độ bóc lột cuối cùng của lịch sử. Ta bỏ qua nhưng cũng phải tôn trọng tính lịch sử, tự nhiên, tính tuần tự không chủ quan nóng vội, bỏ qua những khâu trung gian, những hình thức quá độ nhưng không bỏ qua nền sản xuất hàng hóa.

2. Bỏ qua nhưng phải kế thừa, sử dụng CNTB nhà nước với tư cách là một thành phần kinh tế.

3. Bỏ qua lực lượng sản xuất TBCN nhưng không lặp lại quá trình sản xuất TBCN mà rút ngắn quá trình ấy tức là vừa kết hợp vừa tuần tự nhảy vọt.

4. Bỏ qua quan hệ sản xuất TBCN với tư cách nó giữ vai trò thống trị xã hội chứ không xóa sạch các hình thức kinh tế TBCN trong thời kỳ quá độ lên CNXH."

duongpk205cn029
05-10-2006, 02:17 PM
<DIV>(tiếp theo)</DIV>
<DIV></DIV>
<DIV>
Mới đọc qua chắc các bạn không khỏi thắc mắc vài câu trong đầu, và mình biết các bạn sẽ quay lại đọc đoạn này thêm 1 lần nữa. Mình đã đọc đi đọc lại đoạn này hơn 5 lần rồi, mình thấy có số điểm chưa thuyết phục lắm:

1. Nhất là về <B style="mso-bidi-font-weight: normal">sự bốc lột, về những khâu trung gian, những hình thức quá độ, thời kỳ quá độ [/B](TKQD)

Trong đợt tập trung HK1 vừa rồi mình may mắn được học với thầy Viễn(PGS.TS Hồ Trọng Viễn, nguyên Tổng biên tập báo Khoa Học Chính Trị) dù chỉ 3 giờ, thầy cũng đã nhìn nhận là "giờ tôi còn thấy xấu hổ khi nhớ lại bài giảng môn Triết học Mác của những năm 80". Thầy tiếp, ngày đó chúng ta đã *chửi* TBCN ko ra gì, nhất là cái vụ bốc lộc qua giá trị thặng dư. Theo logic có thể hiểu đơn giản như vầy, đất nước ta vừa trải qua 2 cuộc chiến khốc liệt, chống Pháp vừa xong thì thằng Mỹ hung hãn nhảy vào, nhân dân ta đã vắt kiệt sức cho ngày thống nhất giành được độc lập ngày 30-4-1975. Sau đó chúng ta không còn tin ở ai nữa, mệt mỏi dùng chút sức lực còn lại *đóng cửa thành*, tự cung tự cấp, kết quả thế nào thì ai cũng r, văn kiện ĐH VI đã kết luận tóm gọn = 3 chữ "Duy ý chí" để chỉ giai đoạn này.

Sau đó chúng ta mở cửa, kêu gọi Tư Bản vào (*bốc lột*) đầu tư, kết quả là đất nước giàu lên. Thật ra ta không cần xem hết những lý luận dong dài của Mac về "giá trị thặng dư" mới có thể thấy được sự bốc lột, hiện nay ta vẫn có thể thấy đâu đó trên thế giới vẫn còn:
- Doanh nghiệp độc quyền chèn ép cả người tiêu dùng, người cung cấp vật liệu gốc, người gia công, đôi khi cả nhân viên.
- Chủ nhân lợi dụng hoàn cảnh của người làm công(như tình trạng cư trú bất hợp pháp, tình trạng giới hạn ngôn ngữ hay trình độ, tình trạng địa phương nghèo nàn ít cơ hội, tình trạng đi làm lậu, v.v...) để trả lương rẻ mạt hay bắt làm việc với điều kiện tồi tệ.
- Dùng thế lực (kể cả thế lực xã hội đen) để cưỡng bức làm việc với điều kiện tồi tệ, làm việc bất hợp pháp, hay để cho vay ăn lời cắt cổ.
- Dùng thế lực để buộc người dân phải hối lộ khi họ cần một việc gì.

Còn về Thời kỳ quá độ (TKQD) Thật ra trong học thuyết gốc của C.Mác không có khái niệm về TKQD hay hình thức quá độ. Ông cho rằng những nước nghèo và lạc hậu như chúng ta không thể tiến lên CNXH được mà phải qua giai đoạn phát triển Tư bản. Còn theo Lênin thì những nước như chúng ta sẽ tiến lên CNXH không qua con đường phát triển Tư bản mà bằng TKQD! Với điều kiện có phe XHCN làm hậu thuẫn! Suốt 2 kỳ Đại hội IV - V (năm 75-85), khi chúng ta quán triệt áp dụng Chủ nghĩa Mác-Lê có thể hiểu rằng phe XHCN làm hậu thuẩn ở đây không ai khác chính là Liên Xô. Và rồi sau sự kiện *kinh thiên động địa* những năm 80, hùng cường Liên Xô sụp đổ. Chúng ta chới với quay sang *đổi mới*, từ kỳ họp Đại Hội VI có ý nghĩa lịch sử quan trọng, đất nước đã chuyển mình mở cửa chào đón bè bạn năm Châu. Vậy câu hỏi đặt ra ở đây là. <B style="mso-bidi-font-weight: normal">liệu con đường chúng ta đang đi có phải là TKQD như Lênin đã miêu tả, hay chúng ta đã có 1 version TKQD riêng của mình[/B]? Trong giờ giải lao, mình có đem câu hỏi về TKQD hỏi thầy Viễn, <B style="mso-bidi-font-weight: normal">khi nào thì chúng ta có thể qua được TKQD[/B]? Thầy nói, cái đó Đảng ta vẫn chưa xác định, và không xác định được. Thầy còn nói thêm ở Trung Quốc là 200 năm. Các bạn có suy nghĩ gì về con số này, ngay tức khắc chúng ta có thể làm 1 phép tính nhỏ. Chúng ta vừa tổ chức thành công rực rỡ Đại hội X x 5 năm/1 kỳ DH = 50 năm. 200-50=150. Vậy là còn 150 năm nữa chúng ta sẽ thấy được bộ dạng hoàn hảo của XHCN.
Mình cũng đang lo lắm, ... Hiện nay trên thế giới có khoảng 194 quốc gia và lãnh thổ độc lập (sorry, nếu mình nhớ nhầm). Thì chúng ta còn 3 người anh em khác, *đại ca* Trung Quốc, người làm cả thế giới sững sờ khi lặng lẽ phóng Thần Châu 5 vào vũ trụ, người anh em CuBa, ngoài xì gà Havana nổi tiếng thế giới, đất nước này cũng đang gánh món nợ tỷ đô từ Châu Âu và các nước TB khác. Bắc Hàn thì đang bị Mỹ liệt vào "trục xấu" vì lý do định dùng năng lượng nguyên tử sản xuất điện. Chắc chắn chúng ta sẽ làm thân với *đại ca* Trung Quốc để làm phe hậu thuẩn XHCN để tiếp tục con đường quá độ lên CNXH theo Chủ nghĩa Mac-Lenin. (còn tiếp)</DIV>Edited by: pkduong

duongpk205cn029
05-10-2006, 02:21 PM
<DIV>(tiếp theo)</DIV>
<DIV></DIV>
<DIV>
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">2. Bỏ qua nhưng phải kế thừa, sử dụng CNTB nhà nước với tư cách là một thành phần kinh tế. [/B]

Hai chữ kế thừa làm mình nhớ đến 1 khái niệm tương tự trong OOP, lập trình hướng đối tượng, với parent class (lớp cha) và sub class (lớp con). Trong đó, sub class có thể thừa hưởng lại những property (thuộc tính) và method (phương pháp) của parent class. Cách này rất hay vì ta không cần phải xâu dựng lại các property và method này. Mình hoàn toàn đồng ý với cách đặt vấn đề ở đây. Còn về CNTB nhà nước là 1 thành phần kinh tế như thế nào thì để mình nghiên kíu thêm bên Kinh tế Chính Trị, sẽ zả lời các pác sau vậy.

Có 1 câu chuyện tương tự thế này xảy ra trong chuyến thăm Mỹ của Thủ Tướng Phan V. Khải. Khi trả lời phỏng vấn các báo về câu hỏi Nếu có thể nói tóm gọn 1 câu, ông sẽ nói gì về CNTB. Phó Thủ Tướng Vũ Khoan đã trả lời Các ngài đang sống trong 1 tòa lâu đài nguy nga tráng lệ, còn chúng tôi đang xây dựng tòa nhà lớn dựa trên nền móng của tòa lâu đài ấy. Với câu này Phó Thủ Tướng đã ngầm nói Này các ông TB, hãy đợi đấy, rất hay. (câu chuyện này do thầy Viễn kể). Ông cha ta cũng đã có câu Con (sub class) hơn cha (parent class) là nhà có phúc.

<B style="mso-bidi-font-weight: normal">3. Bỏ qua lực lượng sản xuất TBCN nhưng không lặp lại quá trình sản xuất TBCN mà rút ngắn quá trình ấy tức là vừa kết hợp vừa tuần tự nhảy vọt. [/B]
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">[/B]
Câu này cũng rất hay Vừa kết hợp vừa tuần tự nhảy vọt nghe rất Triết (hì hì), nói thì dể nhưng thực tế làm đâu có dể. Ở đây có 2 cụm từ: lực lượng sản xuất TBCN và quá trình sản xuất TBCN. Mình vẫn chưa hiểu là làm sao có thể bỏ qua được LLSX TBCN và không lặp lại quá trình sản xuất TBCN. Chúng ta ai cũng đều biết, Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là chủ trương của nhà nước. Bây giờ mình nhập dây chuyền công nghệ hiện đại về 1 nhà máy, nếu không cho chuyên gia nứơc ngoài (LLSX TBCN) tham gia thì làm sao ta vận hành được hệ thống đó.

<B style="mso-bidi-font-weight: normal">4. Bỏ qua quan hệ sản xuất TBCN với tư cách nó giữ vai trò thống trị xã hội chứ không xóa sạch các hình thức kinh tế TBCN trong thời kỳ quá độ lên CNXH."[/B]

Cái này chúng ta có thể thấy r qua công ty Truyền thông FPT. Năm ngoái có 1 đoạn bị nhà nước cấm không cho cung cấp dịch vụ ADSL. Nhà nước buộc hắn phải cổ phần hóa và tất nhiên nhà nước sẽ giữ cổ phần 51%,

Trứơc khi kết thúc bài viết mình xin gửi lời cảm ơn đến GS Nguyễn Đức Bình và bác cán bộ trung cấp quân đội đã về hưu Vũ Minh Trực. Vì mình đã sử dụng tư liệu phân tích của 2 bác í qua 2 bài viết rất hay góp ý cho Văn kiện ĐH Đảng X vừa qua. Hai bài viết đó với nhan đề:
+ "Phải đặt thẳng những ý kiến khác nhau lên bàn tranh luận" của GS Nguyễn Đức Bình.
+ "Thế nào là quá độ" của bác Vũ Minh Trực.

2 bài này đã đăng trên VNN.vn, mình sẽ gửi link đến cho các bạn sau, hoặc đơn giản các bạn search tiêu đề này trên VNN.vn sẽ thấy ngay í mà.

Mà các bạn cũng nên đọc 2 bài viết này, rất tuyệt. Đọc xong các bạn sẽ thấy Triết học hay K.Tế Chính Trị cũng là vần đề sát sườn, sống còn của đất nứơc, và mình cảm thấy nó cũng không đến nổi khô khan như hồi mình học Triết năm nào (1996) khi còn là sinh viên năm 1 mới toanh :P

Xin cảm ơn thẩy Viễn đã khơi nguồn cảm hứng Triết cho em.

Xin cảm ơn các bạn đã dành thời gian đọc bài viết của mình. Nếu có gì sai sót hay nông cạn xin các bạn bỏ quá.

Mình sẽ rất vui nếu các bạn cùng chia sẽ, gópýthêm về những điều mình chưa đúng hoặc còn thiếu.

Thân chào đoàn kết và xây dựng

pkduong</DIV>Edited by: pkduong

duongpk205cn029
05-17-2006, 10:45 PM
<DIV>Hic hic, buồn wá bài đăng cả tháng hông ai ngó ngàng gì, cho thêm ý kiến gì. Chán thật, ... http://www.e-ptit.edu.vn/clbsv/images/smileys/smiley5.gif Nhân tiện paste đường link về bài viết mình có tham khảo tới:</DIV>
<DIV></DIV>
<DIV>
+ "Phải đặt thẳng những ý kiến khác nhau lên bàn tranh luận" của GS Nguyễn Đức Bình.
+ "Thế nào là quá độ" của bác Vũ Minh Trực.

Bài này đã đăng trên forum rồi nè các bạn:
http://www.e-ptit.edu.vn/sv/forum_posts.asp?TID=5245&amp;PN=1

Hoặc click vào đây để download file PDF nội dung của 2 bài viết trên:

http://www.e-ptit.edu.vn/sv/upload/forum/zip/3AB74_Gop_y_van_kien_DH_X.zip

Khoảng 12 trang thôi, các bạn in ra rồi suy ngẫm nhé. Rất hay, không nên bỏ qua dù chỉ 1 câu trong 12 trangnày.

Bài viết được nêu lên để góp ý văn kiện cho ĐH X. Đề cập những vấn đề rất thời sự, mà thầy Viễn cũng có dịp giảng cho mình nghe vài ý trong ấy.

</DIV>Edited by: pkduong

nhunglt105qt077
05-18-2006, 11:58 AM
Cảm ơn bạn Pkcuong !


Bạn có nhiều tài liệu Triết học Mác - Lênin thế ? Thế bạn có tài liệu môn KT chính trị ko ? Send cho chúng tớ ít nào ?

duongpk205cn029
05-19-2006, 11:21 AM
<DIV>He` he`, cuối cùng cũng có ít nhất 1 ng quan tâm. Thks ban Nhung. Mình rất muốn chia sẽ những gì mình có cùng các bạn, nhưng khổ nổi mình mới chỉ giác ngộ Chủ nghĩa Mac-Lê gần đây, (sau khi nghe bài giảng của thấy Viễn, thầy Thịnh ở cơ sở 1.)</DIV>
<DIV></DIV>
<DIV>Chủ nghĩa Mác-Lênin gồm 3 phần chính là: Triết học, KT-Chính trị và chủ nghĩa xã hội khoa học. Để hiểu được KTCT Mác-Lênin các thầy đã bảo các em phải nắm vững Triết học Mác trước, do đó mình chưa có can đảm *nhảy* và cũng đồng nghĩa với mình chưa có tài liệu gì nhiều về KTCT. </DIV>
<DIV></DIV>
<DIV>Khi có nhất định mình sẽ post thôi, các bạn chờ nhé. Mà mình nghĩ 1 mình cũng không thể có nhiều thông tin hay được. Do đó mình cố tình post mấy bài này để leo kéo thêm một số bạn khác đồng môn, mà mãi ko thấy ai http://www.e-ptit.edu.vn/clbsv/images/smileys/smiley6.gif </DIV>

nangtencaphuongdong
05-19-2006, 11:31 AM
duonga


ban dang hoc triet hoc mac lennin a. ban hoc lop nao ma dang hoc mon triet vay .minh thi dang hoc kinh te chinh tri . ma mon day minh chang hieu thay co giao hoi gi nua co le do minh chua hoc ki mon triet roi . neu abn co tai lieu gi ve mon kinh te chinh tri thi bost len cho minh nhe


http://www.e-ptit.edu.vn/clbsv/images/smileys/smiley10.gif

nangtencaphuongdong
05-19-2006, 11:32 AM
cac ban oi bao gio moi biet diem mon triet, toan nhi

jenny09
05-19-2006, 09:31 PM
Mình bận quá chứ không sẽ g bài đáp trả PKduong cho xôm diễn đàn.


Tạ lỗi nha.

duongpk205cn029
05-22-2006, 01:28 PM
<DIV>Thanks nhã ý của Jenny http://www.e-ptit.edu.vn/clbsv/images/smileys/smiley1.gif , mình cũng có mail hỏi thầy Viễn và thầy Thịnh xin ý kiến và mình cũng nhận được câu trả lời tương tự ... http://www.e-ptit.edu.vn/clbsv/images/smileys/smiley2.gif </DIV>
<DIV></DIV>
<DIV>Đành chờ đến buổi lên lớp của các thầy ấy mà hỏi thôi http://www.e-ptit.edu.vn/clbsv/images/smileys/smiley12.gif </DIV>

jenny09
05-22-2006, 01:41 PM
Vấn đề quan điểm mà, các thầy không "dám nói ở đây đâu.


Sợ sai quan điểm nếu lỡ lời.


Nhưng chúng mình thì còn được.


Hơn nữa vấn đề bạn đưa ra quá rộng, lại chưa phải là chủ chương đường lối của Đảng, mà là chỉ tranh luận trên một góc độ nào đó.


Tôi đưa ra ý kiến này, bạn thấy thế kia. Đúng sai không ai dám phản bác, không ai dám chốt.


Nên mình nghĩ, cứcho đó là suy nghĩ nhiều chiều để tham khảo và mở rộng kiến thức.


Những ai có tư tưởng tiến bộ thì tiếp thu cái tiến bộ.


Còn có người lạicái tiếp thu cái không tiến bộ.


Vì thế mình trộm nghĩ, những nội dung đưa ra phải mang tư tưởng chính thống nhữngchỉ đạo của Đảng hoặc những cái tương đối rành mạch r ràng và định hướng tư tưởng suy nghĩ và hành động.


pkduong thấy có được không???


Edited by: jenny09

duongpk205cn029
05-22-2006, 05:03 PM
<DIV>Bạn Jenny thân mến, bạn nói rất đúng, nhất là ở câu cuối. Đồng ý là nội dung đưa lên là phải dựa trên tưtưởng chính thống, những chỉ đạo của Đảng. Nhưng bạn thông cảm, mình ko phải là nhà phê bình lý luận gì cả! Mình chỉ nêu lên những suy nghĩ củasinh viên sau khi được học Mac (chung chung) tại trường và quan sát tiếp nhận thông tin từ thực tiễn. http://www.e-ptit.edu.vn/sv/upload/forum/zip/3AB74_Gop_y_van_kien_DH_X.zip (http://www.e-ptit.edu.vn/sv/upload/forum/zip/3AB74_Gop_y_van_kien_DH_X.zip)&lt;&lt; đây cũng là thông tin chính thống đấy chứ. Những bài viết này còn được VietNamNet in thành tập sách và cho tham gia (nóng hổi) hội chợ sách vừa rồi ở TpHCM mà... đó cũng là "Góp phần lập thành tích Chào mừng Đại Hội Đảng lần thứ X". Những bài viết trong ấy rất tâm huyết và hầu như tất cả tác giả đều đang đứng (hoặc đã từng) trong hàng ngũ của Đảng. Mình xin ko dám "lý luận" đến cỡ đó http://www.e-ptit.edu.vn/clbsv/images/smileys/smiley1.gif vì đã có các bác ấy làm tất rồi (GS Nguyễn Đức Bình là một ví dụ)</DIV>
<DIV></DIV>
<DIV>Mình chỉ tiếc một điều là sau ĐH X kết thúc. Vietnamnet không làm một bài tổng kết xem liệu Đảng ta có "Đặt thẳng các vấn đề lên bàn tranh luận" (như GS Nguyễn Đức Bình đề nghị). Và nếu có bạn nào tìm được bài báo cáo tổng kết về những góp ý trứớc ĐH ở trang www.DangCongSan.vn (http://www.DangCongSan.vn)thi cho minh xin cai Link nhé.</DIV>
<DIV></DIV>
<DIV>Thanks!</DIV>

jenny09
05-23-2006, 01:40 PM
Cám ơn pkduong, mình không nói nội dung bạn đưa không chính thống. Nhưng rộng và dàn trải, đi sâu lật ngược lật xuôi thế thì khó mà mò được những người tham gia trao đổi.


Chính vậy nên pkduong thấy đó, mãi mới có người lên tiềng, nhưng cũng chỉ là động viên không thể trao đổi được gì.


Người dành tâm huyết thời gian trao đổi khó như mò kim đó bạn.


Hơn nữa không mấy ai đi chuyên sâu. mà chỉ là đọc mở mang hiểu biết (nếu chăm và có thời gian).


Đằng kia đang có mục góp ý.


Cái đó xưa quá roài.


Nói mãi roài.


Lịch sự tế nhị thì gọi là: chỉ muốnCẦM.... không muốn ĐƯA......


Mong pkduong hiểu và thông cảm.


Nếu có thời gian và điều kiện sẽ trao đổi cùng pkduong nhìu nhìu.Edited by: jenny09

duongpk205cn029
05-23-2006, 03:40 PM
<DIV>Ừa đúng rồi Jenny, vậy để lần sau mình rút kinh nghiệm post mấy bài nho nhỏ, VD: "Vật chất và ý thức cái nào có trước" chẳng hạn. Chờ bài này của mình nhé http://www.e-ptit.edu.vn/clbsv/images/smileys/smiley2.gif </DIV>
<DIV></DIV>
<DIV>Thân,</DIV>
<DIV></DIV>
<DIV>PKDuong</DIV>
<DIV></DIV>

jenny09
05-23-2006, 05:28 PM
<DIV>...Mình chỉ tiếc một điều là sau ĐH X kết thúc. Vietnamnet không làm một bài tổng kết xem liệu Đảng ta có "Đặt thẳng các vấn đề lên bàn tranh luận" (như GS Nguyễn Đức Bình đề nghị). Và nếu có bạn nào tìm được bài báo cáo tổng kết về những góp ý trứớc ĐH ở trang www.DangCongSan.vn (http://www.dangcongsan.vn/)thi cho minh xin cai Link nhé...</DIV>
<DIV>Mình cho rằng cái này chắc phải chờ kỳ họp tới xong sẽ có, giống như các đại hội trước sẽ phát hành những quyển: nghị quyết đại hội đảng ...8 hoặc 9 và tiếp là 10.</DIV>
<DIV>Chúng mình sẽ đưa những nội dung nào sát, thiết thực với nội dung học hiện nay của chương trình và những nội dung có thể vận dụng để hiểu r phần lý luận được học hoặc vận dụng cho nó.</DIV>

duongpk205cn029
05-23-2006, 06:11 PM
<DIV>Ồ thế à, nghĩa là ta phải chờ 5 năm nữa. Câu này giống trong mấy truyện TQ, "Hạ hồi phân giải" hay "Thời gian sẽ trả lời". Thì đành chờ vậy ... chớ biết sao giờ.</DIV>
<DIV></DIV>
<DIV>À còn văn kiện ĐH X - nghe thầy Viễn nói có đăng trên Tạp chí Cộng sảnsố 9/5-2006. Hình như Tạp chí này "Lưu hành nội bộ". Jenny có biết link để xem tài liệu này ko?</DIV>
<DIV></DIV>
<DIV>OK, đồng ý về nhận xét cuối của Jenny. Ko khéo lại lạc đề thì khổ. Mình sẽ cẩn thận. </DIV>
<DIV>Thanks to remind.</DIV>
<DIV></DIV>

kiennt105qt091
06-04-2006, 11:14 PM
Ai cũng biết Triết học là một môn học "khoai" nhất, chẳng một sinh viên bình thường nào lại "khoai" sắc môn này cả, dưng mà vẫn phải học, phải thi. Sắp thi rồi, xin các bạn hãy phát huy tính cộng đồng, tăng cường mối liên kết để cùng nhau vượt qua môn này đi. Ai có phát biểu nào, sáng kiến, tối kiến, sáng voi càng tốt về môn học này hãy cùng nhau chia sẻ đi... SOS

phongtt105cn301
06-04-2006, 11:23 PM
Đối với môn này thì chỉ có đọc sạch , tóm tắt ý ,liên hệ thực tế nhìu .


Còn đâu thì bó toàn thân lun .

dinhhang
06-04-2006, 11:35 PM
Sáng nay lớp mình mới thi môn này xong. Kinh nghiệm thì mình không có, vì hồi học ở CĐ thầy giáo dạy môn này hay tuyệt vời không cần phải đổ mồ hôi sôi nước mắt mà để học nhiều. Còn bây giờ á, ôi thật không biết nói thế nào. Tối qua mất điện còn phải thắp nên đọc sách với Ngantt nữa cơ. Toàn đọc cái khung sườn trong quyển hướng dẫn trước, rồi đọc lại ở sách chính sau, cũng mệt.


Mà cũng chính vì thắp nến học môn triết mà xuýt tẹo nữa phải đi cấp cứu bệnh viện vì cái vụ mất điện ấy Ngantt nhi? Hít cả 1 trời toàn muội than trong đêm mà không biết. Kinh nghiệm học chưa thấy, nhưng kinh nghiệm cẩn thận bắt đầu hình thành rồi. Hic, sáng nay ngủ dậy mặt còn "đẹp" hơn mặt bao công, nhìn cứ như ông bán than hay đốt than ấy. Sợ thật

phongtt105cn301
06-04-2006, 11:39 PM
Ha ha ha ha .


Em đang tưởng tượng cái cảnh đó đây :))Edited by: kronos

ngantt
06-04-2006, 11:42 PM
Trời ạ, ngantt nhớ mãi đó MinhHang1981 à, đó là kỉ niệm đẹp nhất đấy nhỉ? Hai đứa mình giữ nhé, cấm chia sẻ ra nha. Trời à, hôm nay ngồi trên xe nhớ lại mà cứ cười, vì lúc đó nhìn xuống tay thấy đen quá trời luôn MinhHang1981 à!http://www.e-ptit.edu.vn/clbsv/images/smileys/smiley1.gif

phongtt105cn301
06-04-2006, 11:43 PM
Chị ơi survenia đi .

kienht105cn158
06-05-2006, 10:41 AM
HA HA HA cái điều bí mật của chị NGA và chị Hằng em biết roài nhé 2 chị kể cho em rồi


Nào có ai muốn mua thông tin này xin liên hệ với SCOTTY nhé mình bán rẻ cho hihihih


nào maizo maizo

vi_sao???
06-05-2006, 11:43 AM
http://www.e-ptit.edu.vn/clbsv/images/smileys/smiley3.gif Cái tên này cũng đưa chuyện ra phết nhỉ ??? Thế mừ nói là BẢO HÀNH CẢ NIỀM TIN đó. PÁc nga và pác hằng ui các pác đặt niềm tin nhầm chỗ roài .....http://www.e-ptit.edu.vn/clbsv/images/smileys/smiley9.gif

kienht105cn158
06-05-2006, 12:12 PM
đâu có hihih bac NGA và bác HẰNG đặt niềm tin vào em là đúng chỗ mà hihihi


Hôm nọ bác Hằng còn để cả xe ở nhà em cơ mà có gì đâu nên em bảo hành cả niểm tin mà


HIHIHI yên tâm đi maizo maizo bà con ơi

ngantt
06-05-2006, 12:58 PM
Được roài, scotty ơi, ngantt sẽ mua qùa nhiều nhiều cho, giữ cái mồm bí mật lại không lần sau hết quà đấy, tiết lộ chuyện riêng của người khác là không nên. Cấm có buôn dưa lê ngoài YM và diễn đàn đấy, lần sau là cho chết luôn.

ngantt
06-05-2006, 01:00 PM
Ơ quên đang học Triết cơ mà, hic hic, bạn thấy ngay hai phần căn bản nhất đó, phần một Vật chất và Ý thức, phần hai bạn nắm chắc về quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất để giải quyết vấn đề cho triệt để.

nhunglt105qt077
06-05-2006, 01:08 PM
Àh bây giờ thì em đã hiểu hiểu2 chị ạ !! Hay thật đấy ! Khoảnh khắc đáng nhớ !!!!

nhunglt105qt077
06-05-2006, 01:12 PM
Môn Triết hả bạn ! Mình cũng thi môn này rồi và cũng đc học 2 lần rồi ! Theo kinh nghiệm của mình là : khi làm bài nên bám sát nhưng cái gì cô giáo đã vạch và hướng dẫn trong bài giảng hoặc trong khi ôn tập cô giáo đã đề cập đến ! Nhưng như thế chưa đủ , trong bài làm của bạn thì bạn hãy đưa nhưng ý kiến và ví dụ thực tế bằng chính kiến thức của mình vào ( Đôi khi là bịa đặt nhưng phải đúng ) . Nói chung phần này mình thấy cô giáo bảo đánh giá cao đấy ! Cố gắng phát huy khả năng của mình bạn nhé !!!


----------------------------------------------------------------------------


Tớ cũng ko " khoai " học môn này nhưng thi lại đc đến tận 7 cơ đấy !!!

dhtx
07-12-2006, 04:28 PM
Chào các bạn sinh viên!


Topic này được mở ra với mong muốn là nơi trao đổi, hỏiđápgiữa các bạn sinh viên và các giảng viên môn Triết học Mác-Lênin của Học viện. Các bạn hãy gửi các thắc mắc, câu hỏi của mình cho chúng tôi bằng cách post bài trên topic này. Các câu hỏi của các bạn sẽ được các giảng viên, cố vấn học tậptrả lời trong thời gian sớm nhất.


Rất mong nhận được sự hợp tác của các bạn!Edited by: dhtx

hinhtn206cn027
07-12-2006, 06:15 PM
Em tran trong kinh chao thay!, dang hoc lop CN206A1, cho phep em duoc hoi thay la theo nhu thong bao trong dien dan thi den ngay 17/07/2006 thi het han noi bai tap dieu kien, nhung hien gio em chua co cau hoi ve bai tap dieu kien, khong biet trinh tu lam bai tap dieu kien nhu the nao!


He thong cau hoi bai tap dieu kien lay o dau?


Goi theo dia chi nao?


Rat mong thay cho em giai dap som de em co the kip thoi gian lam bai!


em chan thanh com on1

phuonglinh
07-12-2006, 06:40 PM
Câu hỏi điều kiện các lớp miền Nam bạn liên hệ Cô Nhơn - Phòng quản lý Đào tạo và thông tin tư liệu - Cơ sở Học viện tại TP Hồ Chí Minh!


Câu hỏi điều kiện ở miền Nam và miền Bắc là khác nhau.

tuantva206dt093
07-21-2006, 02:23 PM
Em là Trần V Anh Tuấn, sinh viên lớp VT206B1, Xin cho em hỏi là bao giờ sẽ có câu hỏi bài thu họach đợt 1, và muốn nộp thì nộp như thế nào ạ? Hình như là nộp qua Email, nhưng mà là qua Email nào? Xin chỉ bảo em vì đây là lần đầu tiên em học theo phương pháp đaò tạo từ xa.

nhunglt105qt077
07-21-2006, 05:33 PM
Chào bạn Anh Tuấn !
Bài thu hoạch đợt 1 theo mình đc biết thì đến 28/7 này thầy cô sẽ Post câu hỏi cho các bạn khối 2 các lớp B còn các bạn phía Bắc ( các lớp A thì đã có rồi nếu bạn muốn tham khảo thì vào links sau : http://www.e-ptit.edu.vn/hoctap/BTDK/K2/BAITAPDK.htm


Còn vấn đề nộp bài thì cụ thể như sau :
1)- Sinh viên nộp bài trực tiếp hoặc gián tiếp theo đường Bưu điện (Thư thường, Thư đảm bảo/Thư chuyển phát nhanh EMS).
Địa chỉ nhận: (đề gửi GVCN lớp) - Địa chỉ cơ sở đào tạo Ví dụ ở phía Bắc địa điểm I là : iPhòng đào tạo ĐHTX- Trung tâm Đào tạo BCVT 1, km10, Đường Nguyễn Trãi, Hà Đông, Hà tây. ( Còn bạn trong Nam thì sẽ gửi theo địa chỉ của trường bạn tập trung )
2)- Sinh viên gửi và nộp bài qua E-mail.
Phòng đào tạo ĐHTX lưu ý, vì thực tế việc sử dụng E-mail còn nhiều hạn chế, do vậy trong trường hợp sinh viên gửi bài làm qua E-mail, sinh viên phải chủ động liên hệ với giảng viên để đảm bảo việc nhận bài, in bài (nếu cần),chấm bài và đồng thời báo lại GVCN biết.
Chúc bạn học tốt !!

khoipd206dt021
07-27-2006, 10:34 PM
mình xin hỏi nếu gởi qua e-mail vay mình gởi trong hộp thư e-ptit phải không?.Khi liên hệ với giáo viên mình liên hệ qua điện thoại hay qua e-mail. Và giáo viên chủ nhiệm của lớp mình là ai,mình vãn chưa biết được vậy làm sao mình có thể liên hệ được.

pd_truong
08-01-2006, 10:49 AM
Gửi các anh chị em sinh viên


Hiện nay Học viện đã tổ chức Ban cố vấn học tập nhằm mục đích giúp đỡ các anh chị em trong quá trình học tập, nghiên cứu bài giảng.


Do vậy, chúng tôi rất mong nhận được các câu hỏi từ phía các anh chị em học sinh, sinh viên


Các anh chị gửi câu hỏi bằng cách post câu hỏi của mình lên trên diễn đàn. Chúng tôi sẽ trả lời các câu hỏi của các anh chị chậm nhất là 5 ngày.


(Chú ý: Các câu hỏi liên quan đên bài tập điều kiện, gửi email cho GVCN, tổ chứuc lớp các anh chị em sinh viên VUI LÒNG gửi vào diễn đàn của các lớp. Diễn đàn các môn học chỉ nhằm mục đích trao đổi chưyên môn)


Phạm Đức Trường

haiht106qt209
08-02-2006, 10:09 AM
Em nhờ cô giáo làm r hơn cho em về đặc dđểm của triết học so với các hình thái yýthức xã hội khác. Việc vận dụng triết học trong cuộc sống như thế nào

haiht106qt209
08-02-2006, 10:10 AM
Liệu quan điểm: Mâu thuẫn chính là dộng lực để phát triển có còn đúng không ạ?. Nếu đúng thì để phát triển con người phải tạo ra mâu thuẫn có đúng không thầy cô

haiht106qt209
08-02-2006, 10:16 AM
Cô giáo nêu thêm cho em về vấn đề các hình thức cơ bản của chủ nghĩa duy vật. Thể hiện của các hình thức này trong thời kỳ hiện nay ra sao?

haiht106qt209
08-02-2006, 10:16 AM
Khả năng ứng dụng của 3 thuyết là thuyết Khả tri luận, hoài nghi luận, bất khả tri vào cuộc sống

pd_truong
08-03-2006, 10:36 AM
Chúng tôi đã nhận và chuyển 05 câu hỏi của anh haiht106qt209
tới các giáo viên giảng dạy, các cố vấn học tập


Chúng tôi sẽ post câu trả lời vào hôm thứ 2 (ngày 7/8). Các anh chị chú ý theo di câu trả lời


Chúng tôi rất mong nhận được sự cộng tác của anh chị em sinh viên

pd_truong
08-03-2006, 10:37 AM
Chúng tôi đã nhận và chuyển 05 câu hỏi của anh haiht106qt209
tới các giáo viên giảng dạy, các cố vấn học tập thầy giáo Phạm Thành Hưng


Chúng tôi sẽ post câu trả lời vào hôm thứ 2 (ngày 7/8). Các anh chị chú ý theo di câu trả lời


Chúng tôi rất mong nhận được sự cộng tác của anh chị em sinh viên

kiennt105qt091
08-09-2006, 10:24 AM
Khả năng ứng dụng của 3 thuyết là thuyết Khả tri luận, hoài nghi luận, bất khả tri vào cuộc sống





Bạn có thể vào đường link sau để tham khảo, có thể bạn sẽ tìm được ý trả lời cho câu hỏi của mình:


http://www.thuvienhoasen.org/tdv-nhanthucluan.htm

anhnl106dt252
08-12-2006, 04:30 PM
Kính chào thầy cô và các bạn!


Em xin được hỏi "Tại sao Lê nin khẳng định :giai cấp công nhân và người lao động làlực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thểnhân loại?"

phuonglinh
08-12-2006, 08:49 PM
Chúng tôi đã nhận và chuyển 05 câu hỏi của anh haiht106qt209
tới các giáo viên giảng dạy, các cố vấn học tập thầy giáo Phạm Thành Hưng


Chúng tôi sẽ post câu trả lời vào hôm thứ 2 (ngày 7/8). Các anh chị chú ý theo di câu trả lời


Chúng tôi rất mong nhận được sự cộng tác của anh chị em sinh viên






Thầy ơi, quá hạn lâu rồi. Liệu còn chờ lâu nữa không ạ?

chaunh105qt206
08-19-2006, 10:39 AM
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">1. haih106qt209:[/B]
Đặc điểm của triết học so với các hình thái ý thức xã hội khác?
Việc vận dụng triết học trong cuộc sống như thế nào?
Để trả lời câu này cần xem lại chương 1 và kết hợp chương 13 (mục 13.3- 13.3.5).
- Khái niệm triết học: Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới; về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy.
- Triết học là hoạt động tinh thần biểu hiện khả năng nhận thức; đánh giá của con người. Vì vậy triết học cũng là một hình thái ý thức xã hội, hơn nữa nó là hình thái ý thức xã hội đặc biệt, nghĩa là nó khác so với các hình thái ý thức xã hội khác. Tính chất đặc biệt đó (sự khác biệt đó) của tri thức triết học được thể hiện ở chỗ Triết học là hình thái cao nhất của tri thức:
+Nếu như các tri thức thuộc các hình thái ý thức xã hội khác chỉ phản ánh về một lĩnh vực; một bộ phận; một mặt nào đó của thế giới, vạch ra qui luật chi phối trong giới hạn mà ý thức xã hội đó phản ánh thì tri thức triết học lại phản ánh về thế giới trong tính chỉnh thể vạch ra những qui luật chung nhất chi phối của chỉnh thể đó nói chung , của xã hội loài người, của con người trong đời sống cộng đồng nói riêng.
Nghĩa là đối tượng phản ánh của tri thức triết học là rộng nhất.
+Nếu như tri thức của các hình thái ý thức xã hội khác tồn tại và thể hiện có thể ở cấp độ ý thức thông thường hay ý thức lý luận thì tri thức triết học chỉ tồn tại và thể hiện một cách có hệ thống dưới dạng duy lý (hệ thống lý luận) trừu tượng nhất, khái quát nhất, hệ thống hoá nhất
+ Tri thức triết học là sự tích hợp của tất cả các tri thức thuộc các hình thái ý thức xã hội khác sau đó nó lại có vai trò thế giới quan và phương pháp luận đối với sự hình thành phát triển của các tri thức khác
+ Tri thức triết học ra đời muộn hơn rất nhiều so với các hình thái ý thức xã hội khác.
- Việc vận dụng triết học trong cuộc sống?
Có thể nói một cách khái quát chính là sự vận dụng các ý nghĩa phương pháp luận của các nguyên lý triết học như là những nguyên tắc trong việc:
Xác định ý nghĩa cuộc sống, mục tiêu lý tưởng sống
Xem xét, đánh giá các hiện tượng xảy ra trong cuộc sống
Lựa chọn các khả năng, các giải pháp, biện pháp giải quyết các mục tiêu đề ra.

chaunh105qt206
08-19-2006, 10:40 AM
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">2. haih106qt209:[/B]
Liệu quan điểm:mâu thuẫn chính là động lực để phát triển có còn đúng không? Nếu đúng thì để phát triển con người phải tạo ra mâu thuẫn có đúng không?
Một câu hỏi không chính xác, không r quan điểm trên là quan điểm của ai? Nếu là cách hiểu của em, thể hiện sự hiểu biết của em thì cách đặt câu hỏi như vậy dễ dẫn tới sai lầm về mặt nhận thức và sai lầm trong cuộc sống.
Thứ nhất: Không thể trả lời rằng có còn đúng, mà cũng không thể trả lời rằng không còn đúng. Vì triết học không có quan điểm mâu thuẫn chính là động lực để phát triển.
Thứ hai: Không thể tạo ra mâu thuẫn để phát triển. Con người chỉ có thể nhận thức được mâu thuẫn và tạo điều kiện khách quan cho sự vận động của mâu thuẫn phù hợp với mục đích của con người. Vì Mâu thuẫn là mâu thuẫn của bản thân sự vật vật chất, nó tồn tại một cách tất yếu và khách quan dù con người có nhận thức được nó hay không.Đề nghị em xem lại kỹ hơn về nội dung qui luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập

chaunh105qt206
08-19-2006, 10:40 AM
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">3.[/B]
Nêu thêm về vấn đề các hình thức cơ bản của chủ nghĩa duy vật.
Thể hiện của các hình thức này trong thời kỳ này hiện nay ra sao?
- Các hình thức khác nhau của chủ nghĩa duy vật là kết quả phát triển theo thời gian của lập trường triết học duy vật trong việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học. Ngiã là mỗi hình thức đó phụ thuộc trước hết vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể của mỗi giai đoạn lịch sử nhất định đặc biệt là sự phụ thuộc vào trình độ phát triển của các ngành khoa học trong việc đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn ở giai đoạn ấy. Ví dụ:
+ Thời cổ đại với điều kiện khoa học phát triển còn thấp nên quan điểm của chủ nhĩa duy vật còn mang tính trực quan, chất phác, mộc mạc trong việc diễn đạt sự hiểu biết.
+ Thế kỷ 17 -18 với điều kiện khoa học thực nghiệm phát triển mạnh mẽ bởi vậy mà phương pháp của khoa học thực nghiệm ảnh hưởng tới tư duy của các nhà triết học. Do đó chủ nghĩa duy vật thời kỳ tiếp theo nay mang tính siêu hình hay còn gọi là chủ nghĩa duy vật siêu hình.
+ Chủ nghĩa duy vật biện chứng xem điều kiện ra đời của triết học Mác.
Chú ý: ta nói là hình thức cơ bản thì cũng có nghĩa là chủ nghĩa duy vật còn có các hình thức không cơ bản đó là sự biểu hiện cụ thể khác của một hình thức cơ bản. Ví dụ như chủ nghĩa duy vật siêu hình còn thể hiện ở hình thức khác như chủ nghĩa duy vật cơ giới; chủ nghĩa duy vật máy móc; chủ nghĩa duy vật tầm thường.
- Thể hiện của các hình thức này trong thời kỳ hiện nay được biểu hiện trong việc nhận thức và hoạt thực tiễn của chúng ta. Nói chính xác hơn là mặc dù chủ nghĩa duy vật trước Mác đã bị phủ định nhưng những ảnh hưởng của nó không phải đã hết. Nhất là đối với các xã hội có trình độ phát triển thấp, trình độ dân trí không cao. Ngay Việt nam chúng ta có thể thấy được tính chất ảnh hưởng này còn rất nặng nề ở tất cả các lĩnh vực của cuộc sống xã hội cũng như mỗi cá nhân chúng ta.

chaunh105qt206
08-19-2006, 10:41 AM
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">4.[/B]
Khả năng ứng dụng của ba thuyết là thuyết khả tri luận, hoài nghi luận, bất khả tri luận vào cuộc sống.
Thứ nhất cần phải xác định lại xem ba thuyết đó thuộc lĩnh vực nào , nội dung như thế nào? Có liên quan gì tới cuộc sống?
Thứ hai thuật ngữ khả năng ứng dụng thường được sử dụng trong lĩnh vực khoa học cụ thể mà trước hết là khoa học kỹ thuật. Trên bình diện của khoa học triết học người ta thường dùng thuật ngữ vận dụng mang tính nguyên tắc chung mà thôi. Vì triết học không phải là chìa khoá vạn năng thay thế các khoa học cụ thể, nó chỉ có ý nghĩa về thế giới quan và phương pháp luận mà thôi.
Đó là hai điều em cần lưu ý khi đặt câu hỏi. Sau đây tôi khái quát giúp em mấy điểm căn bản liên quan đến câu hỏi của em:
- Ba thuyết trên là ba khuynh hướng khác nhau trong việc trả lời mặt thứ hai của vấn đề cơ bản của triết học- tức là nó giải quyết vấn đề con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không. Như vậy ba thuyết trên thuộc lĩnh vực lý luận nhận thức. Nó liên quan tới việc xác lập niềm tin của con người trong hoạt động nhận thức và sau đó là hoạt động thực tiễn chinh phục, cải tạo thế giới, cải tạo xã hội.
- Hoài nghi luận và thuyết bất khả tri là thuyết nghi ngờ hoặc không thừa nhận con người có khả năng nhận thức do đó nó không giúp gì cho con người trong hoạt động sống tích cực. Nghiên cứu nó giúp ta hiểu được nguyên nhân hạn chế về mặt nhận thức, nhất là nguyên nhân xã hội của việc xuất hiện và tồn tại của nó, qua đó có cơ sở chống lại những ảnh hưởng tiêu cực của những lý luận, học thuyết trong trào lưu triết học phương tây hiện đại. (chương 15)
- Thuyết khả tri thừa nhận khả năng nhận thức thế giới của con người. Đa số các nhà triết học cả duy vật và duy tâm là các nhà khả tri luận. Tuy nhiên nội dung cụ thể của nó còn tuỳ thuộc vào việc giải quyết mặt thứ nhất của vấn đề cơ bản của triết học như thế nào mà ta có: Khả tri luận duy tâm khách quan; khả tri luận duy tâm chủ quan; khả tri luận duy vật siêu hình; khả tri luận duy vât biện chứng lý luận nhận thức duy vật biện chứng.
Tóm lại chỉ có lý luận nhận thức duy vật biện chứng mới có ý nghĩa vận dụng trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn một cách đúng đắn.

chaunh105qt206
08-19-2006, 10:41 AM
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">5.[/B]
Phân tích r hơn về : Thế giới quan cách mạng của Ănghen đã hình thành một cách độc lập với Mác.
Gợi ý trả lời:
Hình thành độc lập: Muốn nói tới quá trình chuyển biến tư tưởng của hai ông là không có liên hệ với nhau, từ những điều kiện xuất thân, điều kiện học tập nghiên cứu độc lập nhau song cùng đi tới một tư tưởng.Xem lại phần 3.2 mục 3.2.1 trang 62- 63 sách Hướng dẫn học tập triết học Mác Lênin.

chaunh105qt206
08-19-2006, 10:58 AM
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">6.[/B]
Có thể gói gọn là cần nắm vững và vận dụng đúng đắn quan điểm toàn diện, phát triển và lịch sử cụ thể trong việc xác định lập trường lợi ích, nguyên nhân sâu xa, nguyên nhân trực tiếp, bản chất của mọi xung đột.
Vận dụng không được giáo điều, cứng nhắc, một chiều, mà cần sáng tạo và phát triển lý luận.

chaunh105qt206
08-19-2006, 10:58 AM
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">7.[/B]
Phân tích r hơn nguồn gôc lý luận trong sự ra đời của triết học Mác lê nin
Gợi ý trả lời:
- Phân tích nguồn gốc lý luận triết học
+ Chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc- đỉnh cao của chủ nghĩa duy trước Mác giá trị trong quan điểm duy vật về tự nhiên và hạn chế là duy tâm trong lĩnh vực xã hội
+ Phép biện chứng của Heghen giá trị là phương pháp biện chứng có tính cách mạng và hạn chế lập trường duy tâm nên có vỏ thần bí.
+ Triết học Mác về lập trường là chủ nghĩa duy vật biện chứng, về phương pháp luận là phép biện chứng duy vật = kết hợp kế thừa có phê phán và cải tạo
- Phân tích quan điểm Kinh tế chính trị cổ điển Anh về vai trò của kinh tế đối với đời sống xã hội cho phép Mác mở rộng quan điểm duy vật biện chứng xây dựng chủ nghĩa duy vật lịch sử và do đó triết học mác trở nên triệt để
- Phân tích giá trị lên án chế độ xã hội tư bản chủ nghĩa và chế tư hữu về tư liệu sản xuất của chủ nghĩa xã hội không tưởng phê phán của Pháp, đó là những đóng góp làm cho triết học Mác không chỉ là giải thích thế giới mà còn nhằm mục đích cải tạo thế giới cải tạo xã hội, trở thành vũ khí lý luận sắc bén của giai cấp vô sản.

chaunh105qt206
08-19-2006, 10:58 AM
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">8.[/B]
Gợi ý trả lời:
Trước Mác trong vấn đề xã hội thì các triết học đều bị chi phối bởi chủ nghĩa duy tâm.
Chủ nghĩa duy vật lịch sử là một thành tựu làm cho triết học Mác trở nên triệt để - không chỉ duy vật trong lĩnh vực tự nhiên mà còn duy vật trong lĩnh vực xã hội
Trở thành công cụ trong việc giải mã các hiện tượng phức tạp của đời sống xã hội
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">9.[/B]
Gợi ý trả lời:
Tính khoa học là gì? Triết học Mác có tính chất đó không
Tính cách mạng là gì? Triết học Mác có tính chất đó không.
Sự thống nhất giữa tính khoa học và tính cách mạng là gì? Nó có trong nội dung triết học Mác không.
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">10. [/B]
Gợi ý trả lời:
Giống nhau : đều là chủ nghĩa duy vật - về nguyên tắc
Khác nhau: về cơ bản và chi tiết
- cơ bản: một anh là duy vật siêu hình, một anh là duy vật biện chứng
- chi tiết: nội dung của từng luận điểm cụ thể, mức độ sâu sắc, đúng đắn.

namlb106dt240
08-19-2006, 12:11 PM
Chào ban cố Vấn !!!


em muốn hỏi : Phân tích nội dung " quan hệ sản xuất phù hợp với sự phát triển lực lượng sản xuất " thực tế tại việt nam đang thực hiện nội dung trên như thế nào?

nhunglt105qt077
08-19-2006, 03:45 PM
Bạn xem licks này xem có giúp đc gì ko nhé !


Trang Web để các bạn download tham khảolàm bài thu hoạch học phần môn triết


http://www.e-ptit.edu.vn/sv/upload/forum/zip/8D48C_Huong_dan_on_thi_mon_triet_hoc.rar (http://www.e-ptit.edu.vn/sv/upload/forum/zip/8D48C_Huong_dan_on_thi_mon_triet_hoc.rar)

minhnv206qt092
08-22-2006, 07:01 PM
Chào ban cố Vấn!
Em muốn hỏi: Nếu em chỉ lấy nội dung trong giáo trình của học viện để làm bài tập điều kiện thì có được không ạ? Các bạn nói là phải tham khảo thêm các giáo trình khác để thêm vào, như vậy em phải mua thêm sách đọc thêm hay vào mạng tìm kiếm các nội dung bài tập mà HV yêu cầu ạ?

huepm106dt396
08-23-2006, 09:31 PM
chi nhung oi sao em download trang web chi cho ko duoc nhi?

dongdq206cn198
08-23-2006, 10:13 PM
Chào ban cố vấn!


Em đọc hết cuốn sách rồi mà vẫn chưa hiểu được chủ nghĩa duy vật biện chứng là gì cả!


các thầy có thể giải thích cho em hiểu được khong a?

pd_truong
08-24-2006, 11:08 AM
Gửi các anh chị em sinh viên:


Hiện nay tôi đã nhận được khá nhiều các câu hỏi về môn Triết học. Tuy nhiên hàng năm các thầy cô giáo giảng dạy bộ môn này đều phải đi tập huấn, và các thầy cô tập huấn từ thứ 2- thứ 6, do vậy các câu hỏi của các anh chị em sinh viên sẽ được trả lời sau.


Mong các anh chị thông cảm về việc này


Còn một bạn sinh viên có hỏi là "lấy tài liệu trong sách nhà trường phát để làm bài tập điều kiện......)


Vấn đề này tôi xin trả lời như sau:


Taì liệu mà nhà trường phát cho các anh chị là những tài liệu cơ bản, thốngnhất, chuẩn và phù hợp với hình thức đào tạo, đối tượng đào tạo.... Đây có thể coi là tài liệu cần thiết nhất để các anh chị em sinh viên có thể sử dụng làm bài tập điều kiện. Còn các tài liệu khác, thì đó chỉ là những tài liệu tham khảo, bổ xung để các anh chị làm tốt hơn bài tập điều kiện thôi.


Xin cảm ơn các anh chị và mong nhận được nhiều câu hỏi từ phía các anh chị

pd_truong
08-24-2006, 04:25 PM
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">5.[/B]
Phân tích r hơn về : Thế giới quan cách mạng của Ănghen đã hình thành một cách độc lập với Mác.
Gợi ý trả lời:
Hình thành độc lập: Muốn nói tới quá trình chuyển biến tư tưởng của hai ông là không có liên hệ với nhau, từ những điều kiện xuất thân, điều kiện học tập nghiên cứu độc lập nhau song cùng đi tới một tư tưởng.Xem lại phần 3.2 mục 3.2.1 trang 62- 63 sách Hướng dẫn học tập triết học Mác Lênin.

pd_truong
08-24-2006, 04:25 PM
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">6.[/B]
Có thể gói gọn là cần nắm vững và vận dụng đúng đắn quan điểm toàn diện, phát triển và lịch sử cụ thể trong việc xác định lập trường lợi ích, nguyên nhân sâu xa, nguyên nhân trực tiếp, bản chất của mọi xung đột.Vận dụng không được giáo điều, cứng nhắc, một chiều, mà cần sáng tạo và phát triển lý luận

pd_truong
08-24-2006, 04:25 PM
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">7.[/B]
Phân tích r hơn nguồn gôc lý luận trong sự ra đời của triết học Mác lê nin
Gợi ý trả lời:
- Phân tích nguồn gốc lý luận triết học
+ Chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc- đỉnh cao của chủ nghĩa duy trước Mác giá trị trong quan điểm duy vật về tự nhiên và hạn chế là duy tâm trong lĩnh vực xã hội
+ Phép biện chứng của Heghen giá trị là phương pháp biện chứng có tính cách mạng và hạn chế lập trường duy tâm nên có vỏ thần bí.
+ Triết học Mác về lập trường là chủ nghĩa duy vật biện chứng, về phương pháp luận là phép biện chứng duy vật = kết hợp kế thừa có phê phán và cải tạo
- Phân tích quan điểm Kinh tế chính trị cổ điển Anh về vai trò của kinh tế đối với đời sống xã hội cho phép Mác mở rộng quan điểm duy vật biện chứng xây dựng chủ nghĩa duy vật lịch sử và do đó triết học mác trở nên triệt để
- Phân tích giá trị lên án chế độ xã hội tư bản chủ nghĩa và chế tư hữu về tư liệu sản xuất của chủ nghĩa xã hội không tưởng phê phán của Pháp, đó là những đóng góp làm cho triết học Mác không chỉ là giải thích thế giới mà còn nhằm mục đích cải tạo thế giới cải tạo xã hội, trở thành vũ khí lý luận sắc bén của giai cấp vô sản.

pd_truong
08-24-2006, 04:26 PM
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">8.[/B]
Gợi ý trả lời:
Trước Mác trong vấn đề xã hội thì các triết học đều bị chi phối bởi chủ nghĩa duy tâm.
Chủ nghĩa duy vật lịch sử là một thành tựu làm cho triết học Mác trở nên triệt để - không chỉ duy vật trong lĩnh vực tự nhiên mà còn duy vật trong lĩnh vực xã hội
Trở thành công cụ trong việc giải mã các hiện tượng phức tạp của đời sống xã hội

pd_truong
08-24-2006, 04:26 PM
Gợi ý trả lời:
Tính khoa học là gì? Triết học Mác có tính chất đó không
Tính cách mạng là gì? Triết học Mác có tính chất đó không.
Sự thống nhất giữa tính khoa học và tính cách mạng là gì? Nó có trong nội dung triết học Mác không.

nhunglt105qt077
08-24-2006, 05:55 PM
chi nhung oi sao em download trang web chi cho ko duoc nhi?


Huepm có thể đưa địa chỉ e-mail cho mình để mình send cho ! Ok?

huepm106dt396
08-28-2006, 12:15 AM
vâng , email của em là: cobetocdaibuongbinh_P415@yahoo.com
chị giúp em nha, em đang làm bài thu hoạch môn này, cần tìm thêm một số tài liệu để bổ xung thêm vào

nhunglt105qt077
08-31-2006, 03:12 PM
Uhm !


huepm xem lại links này down về xem nhé ! 765CZ_Huong_dan_on_thi_triet_hoc.zip (http://www.e-ptit.edu.vn/sv/upload/forum/zip/765CZ_Huong_dan_on_thi_triet_hoc.zip)


Mấy hôm nay e-mail chỗ mình ko vào chậm nên chưa send cho bạn đc !
Bạn phải có winrar mới mở được, nếu chưa có thì bạn vào đây download winrar về .
http://downloads.vnunet.com/download/184.html (http://downloads.vnunet.com/download/184.html)
Rồi mở file .pdf bằng Acrobat Reader


Chúc bạn làm bài tốt !!

pd_truong
09-05-2006, 05:04 PM
Thầy Phạm Thành Hưng có một số câu hỏi rất hay về Triết học, những câu hỏi này các bạn sinh viên thường hay gập phải


Do vậy tôi post lên trên diễn đàn để các anh chị em tham khảo
Câu hỏi
1- Tại sao chỉ nghiên cứu triết học phương đông cổ đại?
2- Tại sao trong lịch sử việt nam thì phật giáo có nhiều công lao đóng góp, nhưng trong triết học phật giáo lại kết luận nó là duy tâm mà duy tâm thì có tác động tiêu cực
3- làm r hơn đường lối Đêmôcrit và đường lối Platon trong triết học và ảnh hưởng của nó?
4-Hạt nhân hợp lý của hêghen mà mác kế thừa
5- Phân tích r hơn về mâu thuẫn trong triết học của Hêghen
6- tại sao lại nói triết học phơ bách gọi là duy vật trực quan
7- tại sao gọi triết học phơ bách là chủ nghĩa nhân bản
8- tại sao nói chủ nghĩa duy vật phơ bách là duy vật đỉnh cao
9- thực chất và ý nghĩa cách mạng của triết học mác
10- tại sao lại gọi là triết học mác lê nin

pd_truong
09-05-2006, 05:15 PM
Các anh chị em sinh viên khi post câu hỏi, đề nghị post đúng vào mục Các câu hỏi và câu trả lời nhé


Trân thành cảm ơn

chaunh105qt206
09-07-2006, 12:31 PM
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">Câu 1. Hãy trình bày nhận thứcvề triết học - hạt nhân lý luận của thế giới quan?[/B]
Câu 2:Hãy trình bày nhận thức về vấn đề cơ bản của triết học. Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong triết học.Edited by: chaunh105qt206

pd_truong
09-07-2006, 12:37 PM
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">Câu 1. Hãy trình bày nhận thức của Anh (Chị ) về triết học - hạt nhân lý luận của thế giới quan?[/B]
Câu hỏi này các anh chị sinh viên cần phải làm nổi bật được những điểm sau:
<B style="mso-bidi-font-weight: normal"><I style="mso-bidi-font-style: normal">- Khái quát về triết học:[/I][/B]
Triết học được rất nhiều các học giả đưa ra khái niệm, ở mỗi thời kỳ, hay khu vực phương đông, phương tây có thể có những khái niệm khác nhau. Nhưngd ù ở phương Đông hay phương Tây, triết học được xem là hình thái cao nhất của tri thức, nhà triết học là nhà thông thái có khả năng tiếp cận chân lý, nghĩa là có thể làm sáng tỏ bản chất của mọi vật.
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau, nhưng bao hàm những nội dung giống nhau, đó là: triết học nghiên cứu thế giới một cách chỉnh thể, tìm ra những quy luật chung nhất chi phối sự vận động của chỉnh thể đó nói chung, của xã hội loài người, của con người trong cuộc sống cộng đồng nói riêng và thể hiện nó một cách có hệ thống dưới dạng duy lý.
Khái quát lại ta có thể hiểu: Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới; về vị trí vai trò của con người trong thế giới đó
- Nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội của Triết học
+ Đứng trước thế giới rộng lớn, bao la, các sự vật hiện tượng muôn hình muôn vẻ, con người có nhu cầu nhận thức thế giới bằng một loạt các câu hỏi cần giải đáp: thế giới ấy từ đâu mà ra?, nó tồn tại và phát triển như thế nào?, các sự vật ra đời, tồn tại và mất đi có tuân theo quy luật nào không? ... trả lời các câu hỏi ấy chính là triết học.
+ Triết học là một hình thái ý thức xã hội có tính khái quát và tính trừu tượng cao, do đó, triết học chỉ xuất hiện khi con người đã có trình độ tư duy trừu tượng hoá, khái quát hoá, hệ thống hoá để xây dựng nên các học thuyết, các lý luận.
- Nguồn gốc xã hội:
Lao động đã phát triển đến mức có sự phân công lao động thành lao động trí óc và lao động chân tay, xã hội phân chia thành hai giai cấp cơ bản đối lập nhau là giai cấp chủ nô và giai cấp nô lệ. Giai cấp thống trị có điều kiện nghiên cứu triết học. Bởi vậy ngay từ khi Triết học xuất hiện đã tự mang trong mình tính giai cấp, phục vụ cho lợi ích của những giai cấp, những lực lượng xã hội nhất định.
Những nguồn gốc trên có quan hệ mật thiết với nhau, mà sự phân chia chúng chỉ có tính chất tương đối.
- Vì sao triết học lại được coi là hạt nhân của thế giới quan:
<B style="mso-bidi-font-weight: normal"><I style="mso-bidi-font-style: normal">* [/I][/B]Thế giới quan: Là toàn bộ những quan niệm của con người về thế giới, về bản thân con người, về cuộc sống và vị trí của con người trong thế giới.
<B style="mso-bidi-font-weight: normal"><I style="mso-bidi-font-style: normal">*[/I][/B]Thế giới quan là sự hoà nhập giữa tri thức và niềm tin: Tri thức là cơ sở trực tiếp cho sự hình thành thế giới quan; niềm tin định hướng cho hoạt động của con người, từ đó tri thức trở thành niềm tin, niềm tin phải trên cơ sở tri thức.
* Các loại thế giới quan (<I style="mso-bidi-font-style: normal">phân chia theo sự phát triển[/I]):
<B style="mso-bidi-font-weight: normal"><I style="mso-bidi-font-style: normal">[/I][/B]+Thế giới quan huyền thoại: Là phương thức cảm nhận thế giới của người nguyên thuỷ, có đặc điểm là các yếu tố tri thức và cảm xúc, lý trí và tín ngưỡng, hiện thực và tưởng tượng, cái thật và cái ảo, cái thần và cái người hoà quyện vào nhau thể hiện quan niệm về thế giới.
+ Thế giới quan tôn giáo: Niềm tin tôn giáo đóng vai trò chủ yếu, tín ngưỡng cao hơn lý trí, cái ảo lấn át cái thật, cái thần trội hơn cái người.
+ Thế giới quan triết học diễn tả quan niệm dưới dạng hệ thống các phạm trù, qui luật đóng vai trò như những bậc thang trong quá trình nhận thức. Như vậy, Triết học được coi như trình độ tự giác trong quá trình hình thành phát triển của thế giới quan. Triết học là hạt nhân lý luận của thế giới quan, đóng vai trò định hướng, củng cố và phát triển thế giới quan của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng trong lịch sử.

Câu 2:<B style="mso-bidi-font-weight: normal">Hãy trình bày nhận thức của anh (chị) về vấn đề cơ bản của triết học. Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong triết học.[/B]
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">[/B]
Đối với câu hỏi này Sinh viên cần phải làm r được một số nội dung chủ yếu sau:
+ Vấn đề cơ bản của triết học là gì và Tại sao nó là vấn đề cơ bản của triết học:
Triết học cũng như các khoa học khác phải giải quyết rất nhiều những vấn đề có liên quan với nhau, trong đó vấn đề cực kỳ quan trọng, là nền tảng và là điểm xuất phát để giải quyết những vấn đề còn lại được gọi là vấn đề cơ bản của triết học.
Ăngghen định nghĩa vấn đề cơ bản của triết học như sau: Vấn đề cơ bản lớn của mọi Triết học, đặc biệt là Triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy với tồn tại
* Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt:
+ Mặt thứ nhất: Giữa tư duy và tồn tại thì cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào?
+ Mặt thứ hai: Con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không?
* Tại sao nó là vấn đề cơ bản của triết học:
+ Trên thực tế những hiện tượng chúng ta gặp hàng ngày hoặc là hiện tượng vật chất tồn tại bên ngoài ý thức của chúng ta, hoặc là hiện tượng tinh thần tồn tại trong ý thức của chúng ta, không có bất kỳ hiện tượng nào nằm ngoài hai lĩnh vực ấy.
+ Bất kỳ trường phái triết học nào cũng phải đề cập và giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, giữa tồn tại và tư duy.
+ Kết quả và thái độ của việc giải quyết vấn đề đó quyết định sự hình thành thế giới quan và phương pháp luận của nhà nghiên cứu, xác định bản chất của các trường phái triết học đó, cụ thể:
- Căn cứ vào cách trả lời câu hỏi thứ nhất để chúng ta biết được hệ thống triết học này, nhà triết học này là duy vật hay là duy tâm, họ là triết học nhất nguyên hay nhị nguyên.
- Căn cứ vào cách trả lời câu hỏi thứ hai để chúng ta biết được nhà triết học đó theo thuyết khả tri hay bất khả tri.Đây là vấn đề chung, nó mãi mãi tồn tại cùng con người và xã hội loài người.
Việc giải quyết mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của triết học đã chia các nhà triết học thành hai trường phái lớn:
+ <B style="mso-bidi-font-weight: normal"><I style="mso-bidi-font-style: normal">Chủ nghĩa duy vật[/I][/B]: Là những người cho rằng vật chất, giới tự nhiên là cái có trước và quyết định ý thức của con người; học thuyết của họ hợp thành các môn phái khác nhau của chủ nghĩa duy vật.<B style="mso-bidi-font-weight: normal"><I style="mso-bidi-font-style: normal">[/I][/B]
+ <B style="mso-bidi-font-weight: normal"><I style="mso-bidi-font-style: normal">Chủ nghĩa duy tâm:[/I][/B] là những người cho rằng ý thức, tinh thần có trước giới tự nhiên; học thuyết của họ hợp thành các môn phái khác nhau của chủ nghĩa duy tâm.

halt106qt243
09-09-2006, 09:43 PM
cho em hooi la` mon triet bai tap dieu kien toi thieu phai lam bao nhieu trang ???? em xin cam on

nhunglt105qt077
09-10-2006, 12:12 PM
cho em hooi la` mon triet bai tap dieu kien toi thieu phai lam bao nhieu trang ???? em xin cam on


Kỳ 1 tớ làm bài thu hoạch Môn Triết thì quy định 10 trang . Nhưng giờ tớ thấy ko có quy định ở links bài điều kiện của các bạn :


http://www.e-ptit.edu.vn/hoctap/BTDK/K2/BAITAPDK.htm


Thế nên bạn cứ làm tốt và cảm thấy đầy đủ bài của mình là tốt rồi !Quan trọng là chất lượng bài viết bạn ạ !


Chúc bạn sớm hoàn thành tốt bài ĐK !

ngandtt205dt906
09-11-2006, 06:25 AM
Thày, hoặc bạn nàolàm ơn gợi ý cho em câu: Vì sao nói :phát triển là một cuộc đấu tranh của các mặt đối lập? Hãy nêu một số loại mâu thuẫn của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay

pd_truong
09-11-2006, 04:48 PM
Bài tập điều kiện môn Triết học là do sinh viên tự làm, tuy nhiên càng làm hay, càng phân tích kỹ thì số lượng trang sẽ nhiều lên và bài làm có chất lượng hơn


Số lượng trang, thì Nhà trường không khống chế, đó là do sinh viên tự làm. Tuy nhiên theo tôi nghĩ, mỗi câu hỏi triết học sinh viên lên viết tối thiểu 02 mặt giâyA4


Xin chân thành cảm ơn ý kiến của anh, chị sinh viên

chaunh105qt206
09-11-2006, 04:52 PM
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">- Trình bày v[/B]<B style="mso-bidi-font-weight: normal">ai trò của triết học trong đời sống xã hội?[/B]<B style="mso-bidi-font-weight: normal">
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">- Những điều kiện cho sự phát sinh và phát triển của triết học Ấn Độ cổ đại. Đặc điểm của triết học Ấn Độ cổ đại.[/B]<B style="mso-bidi-font-weight: normal">
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">-Những tư tưởng cơ bản của Phật giáo Ấn độ cổ đại và ảnh hưởng của nó ở nước ta.[/B][/B][/B]Edited by: chaunh105qt206

pd_truong
09-11-2006, 04:54 PM
* Tồn tại trong mối quan hệ với thế giới xung quanh, dù muốn hay không con người cũng phải nhận thức thế giới và nhận thức bản thân mình. Những tri thức này cùng với niềm tin vào nó dần dần hình thành nên thế giới quan.
* Thế giới quan là nhân tố định hướng cho quá trình hoạt động sống của con người. Thế giới quan như một thấu kính qua đó con người xác định mục đích, ý nghĩa cuộc sống và lựa chọn cách thức đạt mục đích đó.
* Trình độ phát triển của thế giới quan là tiêu chí quan trọng về sự trưởng thành của mỗi cá nhân cũng như mỗi cộng đồng nhất định.
* Triết học ra đời với tư cách là hạt nhân lý luận của thế giới quan, làm cho thế giới quan phát triển như một quá trình tự giác dựa trên sự tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và tri thức do các khoa học đưa lại. Đó là chức năng thế giới quan của triết học.
+ Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm là cơ sở lý luận của hai thế giới quan cơ bản đối lập nhau. Chính vì vậy chúng đóng vai trò là nền tảng thế giới quan của các hệ tư tưởng đối lập. Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong triết học biểu hiện bằng cách này hay cách khác cuộc đấu tranh giữa những giai cấp, những lực lượng xã hội đối lập nhau.
Do vậy:
+ Thế giới quan đúng đắn là tiền đề để xác lập nhân sinh quan tích cực giúp cho con người sáng tạo trong hoạt động.
+ Thế giới quan sai lầm làm cho con người sống thụ động hoặc sai lệch trong hoạt động.
+ Việc nghiên cứu triết học giúp ta định hướng hoàn thiện thế giới quan.
Phương pháp luận là lý luận về phương pháp; là hệ thống quan điểm có tính nguyên tắc chỉ đạo việc tìm tòi, xây dựng, lựa chọn và vận dụng các phương pháp.
* Triết học thực hiện chức năng phương pháp luận chung nhất
+ Tri thức triết học là hệ thống tri thức chung nhất về thế giới và vai trò con người trong thế giới, nghiên cứu các qui luật chung nhất chi phối cả tự nhiên, xã hội và tư duy.
+ Mỗi luận điểm triết học đồng thời là một nguyên tắc trong việc xác định phương pháp, là lý luận về phương pháp.
Việc nghiên cứu triết học giúp ta có được phương pháp luận chung nhất, trở nên năng động sáng tạo trong hoạt động phù hợp với xu thế phát triển chung
Triết học Mác - Lênnin kế thừa và phát triển những thành tựu quan trọng nhất của tư duy triết học nhân loại. Nó được C.Mác và Ph. Ăngghen sáng tạo ra và V.I.Lênin phát triển một cách xuất sắc. Đó là chủ nghĩa duy vật biện chứng trong việc xem xét giới tự nhiên cũng như xem xét đời sống xã hội và tư duy con người.
* Với tư cách là một hệ thống nhận thức khoa học có sự thống nhất hữu cơ giữa lý luận và phương pháp: triết học Mác-Lênin như Lê nin nhận xét: Là một chủ nghĩa duy vật triết học hoàn bị và là một công cụ nhận thức vĩ đại, triết học Mác-Lênin là cơ sở triết học của một thế giới quan khoa học, là nhân tố định hướng cho hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, là nguyên tắc xuất phát của phương pháp luận.
+ Trong triết học Mác - Lênin, lý luận và phương pháp thống nhất hữu cơ với nhau. Chủ nghĩa duy vật là chủ nghĩa duy vật biện chứng và phép biện chứng là phép biện chứng duy vật. Sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng làm cho chủ nghĩa duy vật trở nên triệt để, và phép biện chứng trở thành lý luận khoa học; nhờ đó triết học mácxít có khả năng nhận thức đúng đắn cả giới tự nhiên cũng như đời sống xã hội và tư duy con người.
+ Nắm vững triết học Mác-Lênin không chỉ là tiếp nhận một thế giới quan đúng đắn mà còn là xác định một phương pháp luận khoa học. Nguyên tắc khách quan trong sự xem xét đòi hỏi phải biết phân tích cụ thể theo tinh thần biện chứng, đồng thời nó ngăn ngừa thái độ chủ quan tuỳ tiện trong việc vận dụng lý luận vào hoạt động thực tiễn.
* Trong quan hệ với các khoa học cụ thể, mối quan hệ giữa triết học Mác- Lênin và các khoa học cụ thể là mối quan hệ biện chứng, cụ thể là: các khoa học cụ thể là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển của triết học. Đến lượt mình, triết học Mác- Lênin cung cấp những công cụ phương pháp luận phổ biến, định hướng sự phát triển của các khoa học cụ thể. Mối quan hệ này càng đặc biệt quan trọng trong kỷ nguyên cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ.
Chính vì vậy, để đẩy mạnh phát triển khoa học cụ thể cũng như bản thân triết học, sự hợp tác chặt chẽ giữa những người nghiên cứu lý luận triết học và các nhà khoa học khác là hết sức cần thiết. Điều đó đã được chứng minh bởi lịch sử phát triển của khoa học và bản thân triết học.
Ngày nay trong kỷ nguyên cách mạng khoa học công nghệ, sự gắn bó càng trở nên đặc biệt quan trọng. Trong kỷ nguyên này, cuộc đấu tranh chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm không bị thủ tiêu mà vẫn tiếp tục diễn ra với những nội dung và hình thức biểu hiện mới. Trong tình hình đó, lý luận triết học sẽ trở nên khô cứng và lạc hậu, nếu không được phát triển dựa trên sự khái quát khối tri thức hết sức lớn lao của khoa học chuyên ngành. Ngược lại, nếu không đứng vững trên lập trường duy vật khoa học và thiếu tư duy biện chứng thì đứng trước những phát hiện mới mẻ người ta có thể mất phương hướng và đi đến kết luận sai lầm về triết học.
Tuy nhiên, triết học Mác không phải là đơn thuốc vạn năng chứa sẵn mọi cách giải quyết các vấn đề đặt ra trong hoạt động nhận thức cũng như hoạt động thực tiễn. Để có thể tìm lời giải đáp đúng đắn cho những vấn đề đó, bên cạnh tri thức triết học cần có hàng loạt những tri thức khoa học cụ thể cùng với những tri thức kinh nghiệm do cuộc sống tạo nên một cách trực tiếp ở mỗi con người. Thiếu tri thức đó, việc vận dụng những nguyên lý triết học không những khó mang lại hiệu quả, mà trong nhiều trường hợp có thể còn dẫn đến những sai lầm mang tính giáo điều.
Do vậy, trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, chúng ta cần tránh cả hai thái cực sai lầm:
+ Xem thường triết học sẽ sa vào tình trạng mò mẫm, dễ bằng lòng với những biện pháp cụ thể nhất thời, đi đến chỗ mất phương hướng, thiếu nhìn xa trông rộng, thiếu chủ động và sáng tạo trong công tác;
+ Tuyệt đối hóa vai trò của triết học sẽ sa vào chủ nghĩa giáo điều, áp dụng một cách máy móc những nguyên lý, những quy luật vào từng trường hợp riêng mà không tính đến tình hình cụ thể trong từng trường hợp riêng và kết quả dễ bị vấp váp, thất bại.
Bồi dưỡng thế giới quan duy vật và rèn luyện tư duy biện chứng để phòng và chống chủ nghĩa chủ quan, tránh phương pháp tư duy siêu hình, đó vừa là kết quả vừa là mục đích trực tiếp của việc nghiên cứu lý luận triết học nói chung, triết học Mác - Lênin nói riêng.<B style="mso-bidi-font-weight: normal"> [/B]
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">[/B]
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">- Những điều kiện cho sự phát sinh và phát triển của triết học Ấn Độ cổ đại. Đặc điểm của triết học Ấn Độ cổ đại.[/B]
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">[/B]
+ Những điều kiện:
- Điều kiện địa lý.
- Điều kiện kinh tế - xã hội
- Những thành tựu của khoa học - văn hoá.
+ Những đặc điểm cơ bản của triết học Ấn độ cổ đại.
- Triết học có sự đan xen với tôn giáo - là đặc điểm lớn nhất.
- Triết học thường tôn trọng và có khuynh hướng phục cổ.
- Triết học thể hiện ở trình độ tư duy trừu tượng cao khi giải quyết vấn đề bản thể luận.
+ Hai trường phái triết học:
- Trường phái triết học chính thống (trường phái thừa nhận kinh Vêda) - kể tên 6 trường phái.
- Trường phái triết học không chính thống (trường phái không thừa nhận kinh Vêda) - kể tên 3 trường phái.
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">- Những tư tưởng cơ bản của Phật giáo Ấn độ cổ đại và ảnh hưởng của nó ở nước ta.[/B]
Phật tổ giảng giáo lý của mình bằng truyền miệng (kinh không chữ). Sau khi Ngài tịch, các học trò nhớ lại và viết thành Tam tạng chân kinh (kinh, luật, luận), qua đó thể hiện những tư tưởng cơ bản của Phật giáo trên hai phương diện: bản thể luận và nhân sinh quan:
+ Về bản thể luận: Phật giáo đưa ra tư tưởng vô thường, vô ngã và luật nhân quả.
+ Về nhân sinh quan: Phật giáo đưa ra tư tưởng luân hồi và nghiệp báo, tứ diệu đế, thập nhị nhân duyên và niết bàn.
+ Đánh giá những mặt tích cực của Phật giáo:
Phật giáo là một tôn giáo. Vì vậy, nó có những hạn chế về thế giới quan và nhân sinh quan. Song, với thái độ khách quan, chúng ta cần nhận thức những yếu tố tích cực trong tư tưởng triết học Phật giáo:
- Từ khi xuất hiện tới nay, Phật giáo là tôn giáo duy nhất lên tiễng chống lại thần quyền.
- Những tư tưởng của Phật giáo có những yếu tố duy vật và biện chứng.
- Phật giáo tích cực chống chế độ đẳng cấp khắc nghiệt, tố cáo bất công, đòi tự do tư tưởng và bình đẳng xã hội; nói lên khát vọng giải thoát con người khỏi những bi kịch cuộc đời.
- Đạo phật nêu cao thiện tâm, bình đẳng, bác ái cho mọi người như là những tiêu chuẩn đạo đức cơ bản của đời sống xã hội.
+ Ảnh hưởng của phật giáo tới Việt nam:
- Phật giáo du nhập vào nước ta từ những năm đầu công nguyên, và phát triển phù hợp với truyền thống Việt <st1:country-region><st1:place>Nam</st1:place></st1:country-region>.
- Ảnh hưởng của Phật giáo với nước ta khá toàn diện:
* Trở thành quốc giáo ở các triều đại: Đinh, Lê, Lý, Trần góp phần kiến lập và và bảo vệ chế độ phong kiến tập quyền, giữ vững nền độc lập dân tộc.
* Trước đây, Phật giáo có công trong việc đào tạo tầng lớp trí thức cho dân tộc: có nhiều vị tăng thống, thiền sư, quốc sư có đức độ, tài năng giúp nước an dân như: Ngô Chân Lưu, Pháp Nhuận, Vạn Hạnh, Viên Thiếu, Không Lộ...
* Bản chất từ bi hỷ xả ngày càng thấm sâu vào đời sống tinh thần dân tộc, rèn luyện tư tưởng tu dưỡng đạo đức, vì dân, vì nước.
* Vào thời cực thịnh, Phật giáo là nền tảng tư tưởng trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, chính trị, văn hoá, giáo dục, khoa học, kiến trúc, hội hoạ... nhiều tác phẩm văn học có giá trị, nhiều công trình kiến trúc độc đáo, đậm đà bản sắc dân tộc có tầm cỡ quốc tế của Việt Nam phần lớn được xây dựng vào thời kỳ kỳ này. Từ cuối thế kỷ XIII tới nay, Phật giáo không còn là quốc giáo nữa nhưng những giá trị tư tưởng tích cực của nó vẫn còn là nhu cầu, sức mạnh tinh thần của nhân dân ta...
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">[/B]
Edited by: pd_truong

sonha106dt248
09-11-2006, 10:18 PM
chào các thầy cô


em được biết là xã hội chủ nghĩa là một xã hội không có giai cấp ở đó con người sống bình đẳng với nhau không có giai cấp thống trị và giai cấp bị trị,conngười ai cũng như ai bìnhđẳng về mọi phương diện (nghĩa là một xã hội không có nhà nước). như vậy nước ta chưa là một nước xã hội chủ nghĩa . em muốn hỏi thầy cô là nước ta bao giờ thì trở thành một nước xã hội chủ nghĩa và liệu xã hội chủ nghĩa có hơi viễn tưởng không ạ

pd_truong
09-12-2006, 12:02 PM
Trong thời gian vừa qua, tôi thấy số lượng người đặt các câu hỏi cho diễn đàn hơi ít. Chúng tôi rất mong nhận được ngày càng nhiều câu hỏi hơnnữa của các anh chị em sinh viên hệ đại học từ xa


Chúng tôi cũng sẽ đưa lên diễn đàn một số câu hỏi mà sinh viên thường gặp phải trong các đề thi hết môn để các anh chị sinh viên cùng tham khảo

pd_truong
09-13-2006, 12:09 PM
Câu hỏi
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">1- Tại sao chỉ nghiên cứu triết học phương đông cổ đại?[/B]
trả lời:
Trước hết ta cần thấy câu hỏi trên chỉ là câu hỏi có ý nghĩa khi đặt nó trong điều kiện cụ thể của môn học triết học mác lê nin chương trình đại học. Nghĩa là việc nghiên cứu tư tưởng triết học nói chung và triết học phương đông nói riêng không phải với tư cách một môn học nghiên cứu về lịch sử tư tưởng triết học, mà chỉ là sự lược khảo lịch sử đó nhằm mục đích <B style="mso-bidi-font-weight: normal">sáng tỏ một cách khái quát có tính phổ biến [/B]của sự nảy sinh và các khuynh hướng khác nhau trong việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học
Sau nữa ta cũng cần thấy <B style="mso-bidi-font-weight: normal">một số đặc điểm khác biệt[/B] trong cách tiếp cận của triết học phương đông so với triết học phương Tây.
Một là triết học phương đông nhấn mạnh mặt thống nhất trong mối quan hệ giữa con người và vũ trụ.Do đó vấn đề bản thể luận trong triết học phương đông thường mờ nhạt, triết học phương đông nghiên cứu thế giới cũng chỉ nhằm làm sáng tỏ vấn đề con người, hơn nữa chỉ là mặt xã hội, mặt tâm linh tinh thần. Phương Tây thì ngược lại, nó tách con người ra khỏi thế giới, con người là chủ thể, thế giới là khách thể, là đối tượng cần nghiên cứu chinh phục, bởi vậy trong triết học phương tây vấn đề bản thể luận rất đậm nét, sâu sắc.
Hai là triết học phương đông ít khi tồn tại dưới dạng triết học thuần tuý, mà thường ẩn dấu đằng sau các vấn đề chính trị - xã hội, đạo đức, tôn giáo , nghệ thuật
Ba là triết học phương đông đặt trọng tâm vào việc giải quyết mặt thứ hai của vấn đề cơ bản của triết học, mặt thứ nhất nếu có đề cập thì cũng chỉ được coi như vấn đề có liên quan, có tác dụng giải thích bổ xung cho mặt thứ hai mà thôi.
Tóm lại, với một số đặc điểm trên thì toàn bộ nội dung của các vấn đề triết học ta thấy nó đã được đặt ra một tương đối có hệ thống và đầy đủ trong triết học phương đông cổ đại. Triết học phương đông trung, cận đại sau này chỉ còn là sự tiếp thu, chú giải làm phong phú thêm những tinh thần cơ bản (của cổ đại)theo hơi thở thời đại mà thôi.
Cũng chính bởi lẽ đó mà triết học phương đông không có bước phát triển nhảy vọt về chất có tính vạch thời đại.
Cho nên nắm vững được những nội dung tư tưởng của triết học phương đông cổ đại là đủ để ta có thể hình dung được một cách khái quát những vấn đề cơ bản của tư tưởng triết học của phương đông.
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">2- Tại sao trong lịch sử việt nam thì phật giáo có nhiều công lao đóng góp, nhưng trong triết học phật giáo lại kết luận nó là duy tâm mà duy tâm thì có tác động tiêu cực[/B]
Trả lời
Trước hết để trả lời câu hỏi này ta cần làm r triết học phật giáo có phải hoàn toàn duy tâm hay không? Hơn nữa khi kết luận nó duy tâm thì tác động tiêu cực của nó được xét ở bình diện nào? Sau đó ta tìm hiểu đóng góp gì, trong điều kiện nào trong lịch sử việt nam?
Nghiên cứu triết học phật giáo ta thường đề cập tới hai mặt: Bản thể luận và triết lý nhân sinh. Về bản thể luận, với 3 phạm trù duyên khởi, vô thường, vô ngã và sự luận giải về 3 phạm trù này ta thấy triết học phật giáo nguyên thuỷ có tính biện chứng và duy vật chất phác.
Như vậy, khi ta nói triết học phật giáo là duy tâm thì ta cần phải hiểu là nó duy tâm khi bàn về triết lý nhân sinh và con đường giải thoát sự khổ của đời người. Như vậy ở bình diện triết học thì tác động tiêu cực của triết học phật giáo là ở chỗ tạo ra một cách nhìn bi quan yếm thế về cuộc đời, thủ tiêu tính tích cực trong việc nhận thức và cải tạo xã hội. Tuy nhiên, ở một khía cạnh nào đó trong điều kiện nhất định thì triết lý phật giáo cũng có một giá trị đạo đức nhất định đó là tính từ bi hỷ xả, nó khuyên bảo con người bỏ điều ác, tích điều thiện. Cũng chính bởi điều đó mà phật giáo trở thành một thứ tôn giáo có tính quần chúng rộng rãi trong điều kiện xã hội còn nhiều điều xấu xa, phi nhân tính.
Khi khẳng định phật giáo có nhiều công lao đối với lịch sử việt nam, thì ta cũng cần hiểu r 2 điểm:
Thứ nhất phật giáo du nhập vào việt nam không còn là phật giáo nguyên thuỷ, mà bản thân phật giáo sau này có nhiều trường phái hơn nữa khi du nhập nó còn chịu sự qui định bởi những điều kiện lịch sử văn hoá- xã hội cụ thể, tức là nó có sự khúc xạ nhất định bởi chủ thể nhất định. Điều đó được minh chứng qua sự khác nhau giữa phật giáo đại thừa ở miền bắc và phật giáo tiểu thừa ở miền nam.
Thứ hai nói đến công lao của phật giáo đối với lịch sử việt nam chủ yếu là ta nói tới sự đóng góp của phật giáo trong sự nghiệp chống giặc ngoại xâm giành độc lập dân tộc. Ở điểm này ta cần lưu ý là mỗi tín đồ phật giáo cũng đồng thời là con dân đất việt, và một thời phật giáo còn được coi là quốc giáo, hơn nữa như trên đã nói tư tưởng của phật giáo có điểm tương đồng với tư tưởng giữ nước là trừ ác, bảo vệ chính nghĩa. Trong 2 cuộc kháng chiến của dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng hàng triệu tín đồ phật giáo có cả chức sắc tôn giáo đã hy sinh vì sự nghiệp giành và bảo vệ độc lập dân tộc.
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">3- làm r hơn đường lối Đêmôcrit và đường lối Platon trong triết học và ảnh hưởng của nó?[/B]
Trả lời
Đối với câu hỏi này tôi xin giới hạn vấn đề cần làm r đó là tại sao lại gọi là đường lối và lại gắn với hai đại biểu là Đêmôcrit và Platon mà không trình bày những nội dung triết học cụ thể của từng đại biểu vì sách đã trình bày cụ thể.
Ta gọi là đường lối Đêmôcrit và đường lối duy tâm trong triết học vì những lý do sau đây:
- Trong quá trình nảy sinh, phát triển tư tưởng triết học thì triết học của đêmôcrit và Platon không còn là những tư tưởng triết học rời rạc tản mạn, không đầy đủ mà đã là những học thuyết tương đối hoàn chỉnh.
- Nội dung học thuyết triết học của hai ông đã bao quát được đầy đủ các khía cạnh, các vấn đề đặt ra cần nhận thức ở bình diện triết học. Có thể nói ngay ở thời kỳ cổ đại thì triết học của hai ông đã mang một hình thức, một dáng dấp của triết học hiện đại.
- Trong việc giải quyết các nội dung vấn đề cơ bản của triết học và các vấn đề liên quan thì tư tưởng của hai ông đã thể hiện được đây là hai khuynh hướng cơ bản đối lập nhau đó là khuynh hướng , lập trường duy vật và duy tâm, mà hai khuynh hướng lập trường đó đã được thể hiện xuyên suốt, chi phối toàn bộ quá trình phát triển của tư tưởng triết học sau này.
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">4- Hạt nhân hợp lý của hêghen mà mác kế thừa[/B]
Trả lời
Triết học Hêghen, xét về toàn bộ thì đó là một hệ thống triết học duy tâm khách quan có tính chất tư biện và thần bí. Tư tưởng chính trị trong hệ thống triết học này là bảo thủ và cực kỳ phản động. Tuy vậy, nếu nghiên cứu kỹ toàn bộ hệ thống triết học này bao gồm ba bộ phận: Logic học, triết học tự nhiên, triết học tinh thần, đặc biệt là logic học của Heghen thì người ta lại có thểe tmf thấy những hạt nhân hợp lý nhũng tư tưởng thiên tài về Phép biện chứng. Đó là chỗ mà ông đã vượt xa các bậc tiền bối của mình, kể cả người gần nhất là E. Cantơ.
Trong hệ thống triết học của mình, Heghen quan niẹm thế giới như một khối thống nhất, trong đó các sự vật hiện tượng tồn tại trong mối liên hệ phổ biến , vận động và phát triển không ngừng. Động lực của sự vânm động và phát triển đó là sự tác động qua lại của các mặt đối lập- tức là mâu thuẫn biện chứng nội tại.
Heghen đã trình bày và phát triển những qui luật cơ bản của phép biện chứng: Qui luật mau thuẫn, qui luật lượng đổi chất đổi, qui luật phủ định của phủ định, qua đó làm nổi bật lên được nguồn gốc, động lực, phương thức, con đường và khuynh hướng của sự phát triển khách quan. đặc biệt Heghen đã trình bày một cáhc rất tài tình về phép biện chứng của các khái niệm và qua đó dự đoán biện chứng của hiện thực.
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">5- Phân tích r hơn về mâu thuẫn trong triết học của Hêghen[/B]
Trả lời
Có thể nói một cách khái quát là: mâu thuẫn trong triết học Hêghen chính là mâu thuẫn giữa hệ thống và phương pháp mâu thuẫn giữa phép biện chứng có tính cách mạng với chủ nghĩa duy tâm bảo thủ thần bí.
- Một mặt, phép biện chứng của hêghen khẳng định sự phát triển không ngừng của của Ýniệm tuyệt đối; nhưng mặt khác, lại lại coi triết học của mình là điểm tận cùng trong sự phát triển của ý niệm tuyệt đối.
- Một mặt hêghen khẳng định nhận thức là một quá trình phát triển chứa đầy mâu thuẫn; nhưng mặt khác ông lại coi triết học của mình là viên mãn kết thúc triết học như là chân lý tuyệt đối không thể phát triển hơn được nữa
- Một mặt hêghen thừa nhận tính phổ biến và khách quan của mâu thuẫn; song mặt khác ông lại coi triết học của mình như là một hệ thống hoàn toàn hài hoà, không còn mâu thuẫn. Khi có mâu thuẫn cần giải quyết thì ông không sử dụng phương pháp đấu tranh mà lại chủ trương điều hoà, dung hoà mâu thuẫn. Điều này phản ánh một tình hình, một tâm trạng của giai cấp tư sản Đức đầy mâu thuẫn- vừa muốn cách mạng, lại vừa sợ cách mạng.
Chính vì những mâu thuẫn phức tạp trong triết học hêghen- mâu thuẫn giữa yếu tố cách mạng, khoa học và yếu tố bảo thủ, duy tâm, cho nên khi nghiên cứu cần quán triệt quan điểm biện chứng duy vật để kế thừa có tính phê phán, lọc bỏ cải tạo trên nguyên tắc: Kế thừa cấc nhân tố hợp lý; phê phán loại bỏ các yếu tố lạc hậu.
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">6- tại sao lại nói triết học phơ bách gọi là duy vật trực quan[/B]
Trả lời
Triết học của phơbách là triết học trực quan vì: Tuy Ông quan niệm thế giới là vật chất, thế giới tự nhiên tồn tại khách quan độc lập với ý thức của con người và không lệ thuộc vào bất kỳ một lực lượng nào có tính siêu nhiên - tức là ông là một nhà triết học duy vật. Nhưng Ông lại không nhận thấy rằng, chính thế giới vật chất tự nhiên ấy cũng là đối tượng hoạt động cải tạo của con người, và còn là thế giới đã được sáng tạo lại theo nu cầu của con người bằng chính những hoạt động mang tính vật chất của con người (mà Mác gọi là thế giới tự nhiên thứ hai). Trong việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học, cụ thể vấn đề nguồn gốc và bản chất của ý thức, Phơbách chưa lý giải được một cách r ràng và chính xác bởi lẽ Ông không thấy được rằng ý thức xuất hiện là một quá trình nhận thức gắn liền với quá trình hoạt động cải tạo thế giới, nói khác đi là ông không hiểu được hoạt động thực tiễn xã hội của con người, không hiểu vai trò của thực tiễn sản xuất trong quá trình nhận thức và cải tạo thế giới, thậm chí ông còn hạ thấp và coi thường thực tiễn như là những hoạt động tầm thường có tính chất con buôn. Tóm lại triết học của Phơ bách chưa thoát khỏi tính chất máy móc siêu hình của chủ nghĩa duy vật cũ. Triết học Phơ bách mới chỉ là triết học nhìn ngắm, giải thích thế giới chứ chưa phải là triết học cải tạo thế giới, và cũng mới chỉ duy vật về tự nhiên còn trong lịch sử -xã hội lại là duy tâm.
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">[/B]
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">[/B]
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">[/B]
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">7- tại sao gọi triết học phơ bách là chủ nghĩa nhân bản[/B]
Trả lời
Triết học Phơ bách là triếta học nhân bản vì: Nếu như triết học của Heghen dựa trên nền tảng ý niệm tuyệt đối, một thứ ý thức trừu tượng phi nhân tính thì triết học của Phơ bách lại dựa trên cơ sở và nền tảng sự tồn tại của chính con người. Trong triết học Phơ bách không còn có sự tách rời giữa tinh thần và thể xác, giữa vật xchất và ý thức. Vật chất không còn là một dạng tồn tại khác của ý thức như Heghen quan niệm. Theo phơ bách thì ý thức chỉ là một thuộc tính đặc biệt của vật chất, của bộ óc con người. Vì vậy triết học của phơ bách được gọi là triết học nhân bản hay chủ nghĩa nhân bản.
Tuy nhiên ta cũng cần thấy rằng quan niệm nhân bản của Phơ bách còn có hạn chế - hạn chế lớn nhất, là ở chỗ ông hiểu chưa đúng về con người, coi con người chỉ như một thực thể tự nhiên thuần tuý mang bản chất tộc loại, mà không thấy được bản chất xã hội của con người, không thấya được vai trò của mối quan hệ giữa con người với nhau qui định nên bản chất của họ. Do đó, quan niệm về bản chất con người vẫn mang tính trừu tượng phi hiện thực. Chính vì điều hạn chế này mà Phơ bách đã trượt từ chủ nghĩa duy vật trong quan niệm về tự nhiên sang chủ nghĩa duy tâm trong quan niệm về xã hội.
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">8- tại sao nói chủ nghĩa duy vật phơ bách là duy vật đỉnh cao[/B]
Trả lời
Cần nói chính xác, đầy đủ lại là: chủ nghĩa duy vật của Phơ bách là chủ nghĩa duy vật đỉnh cao, và chỉ là đỉnh cao so với toàn bộ chủ nghĩa duy vật trước Mác. Về điều này xin nêu nhận xét, đánh giá khái quát của Ănghen về Phơ bách:
- Trong khi phê phán triết học Heghen (đỉnh cao của triết học duy tâm- duy tâm triệt để), Phơ bách đã khẳng định: Giới tự nhiên tồn tại độc lập với ý thức; con người là sản phẩm của tự nhiên; ý thức chỉ là một thuộc tính đặc biệt của vật chất, bộ óc con người; ngoài tự nhiên và con người ra thì không còn có gì khác cả, không có thế giới nào khác ngoài thế giới tự nhiên và thế giới con người; Tôn giáo chỉ là sự phản ánh hư ảo chính bản chất của con người.
Tuy nhiên khi phê phán Heghen, thì Phơ bách đã phạm phải một sai lầm là không thấy rằng: sự phê bình phải tiêu diệt hình thức của nó và cứu lấy cái nội dung mới mà nó thu được. Nghĩa là Phơ bách đã không thấy được và do đó không tiếp thu được những yếu tố hợp lý trong triết học của Heghen là phép biện chứng có tính cách mạng.
- Mặt khác, Phơ bách hoàn toàn đúng khi ông nói rằng chủ nghĩa duy vật của chỉ riêng khoa học tự nhiên là cơ sở của kiến trúc của tri thức nhân loại, nhưng không phải là bản thân kiến trúc đó. Vì chúng ta không những chỉ sống trong tự nhiên, mà còn sống ở trong xã hội loài ngườiDo đó, nhiệm vụ là làm cho khoa học về xã hộihoà hợp với cơ sở duy vật, và xây dựng lại khoa học về xã hội, phù hợp với cơ sở đó.
Tuy nhiên Ănghen nói rằng Phơ bách đã không hoàn thành được nhiệm vụ đó, rằng trong lĩnh vực lịch sử thì Phơ bách vẫn hoàn toàn duy tâm. Ănghen đã đã chỉ r khi chúng ta nghiên cứu tới triết học tôn giáo là luân lý học của Phơ bách, thì chúng ta mới thấy r ràng chủ nghĩa duy tâm thực sự của ông ta.
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">9- thực chất và ý nghĩa cách mạng của triết học Mác[/B]
Trả lời
- Sự ra đời của triết học mác là một tất yếu do yêu cầu khách quan của một thời đại mới. Một mặt đó là đòi hỏi phải có một tư duy mới, phương pháp luận mới đáp ứng được yêu cầu của quá trình tổng kết tri thức khoa học thực nghiệm, chuyển hình thái khoa học lên một trình độ mới khoa học lý thuyết. Điều đó không thể thực hiện được bởi tư duy siêu hình hay phép biện chứng duy tâm của hêghen. Mặt khác, sự đòi hỏi của phong trào cách mạng của một lực lượng xã hội đại diện cho thời đại mới là giai cấp vô sản về một lý luận cách mạng soi sáng, khi mà tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng và tư tưởng dân chủ tư sản tỏ r các mặt hạn chế. Triết học Mác ra đời là một cuộc cách mạng có tính bước ngoặt trong lịch sử phát triển tư tưởng triết học.
- Thực chất bước ngoặt cách mạng trong triết học do Mác- ănghen thực hiện đó là kết hợp thống nhất giữa tính cách mạng và tính khoa học, nó khác với triết học truyền thống là chỉ giải thích thế giới, triết học Mác không chỉ giải thích đúng đắn, khoa học về thế giới mà nó còn chỉ ra phương pháp cách mạng để cải tạo thế giới một cách có hiệu quả. Trung tâm của các hệ thống triết học trước Mác không phải là thực tiễn, khôngphải là hoạt động nhằm cái tạo thế giới mà chủ yếu là hoạt động tinh thần quan sát giải thích, Mác coi đó là khuyết điểm lớn nhất của toàn bộ triết học trước. Lần đầu tiên triết học Mác đã đưa phạm trù thực tiễn vào triết học, coi nó là trung tâm của lý luận, và vạch ró lý luận chỉ thực sự có sức mạnh khi nó liên hệ với thực tiễn. Triết học Mác kiên quyết chống chủ nghĩa kinh nghiệm và chủ nghĩa giáo điều trong triết học. Lần đầu tiên trong quá trình phát triển triết học, Triết học Mác đã khắc phục được sự tách rời giữa thế giới quan duy vật và phép biện chứng, hơn nữa còn khắc phục được hạn chế của chủ nghĩa duy vật cũ duy vật trong lĩnh vực tự nhiên nhưng lại duy tâm trong lĩnh vực xã hội.
- Ý nghĩa: Triết học Mác trở thành thế giới quan khoa học triệt để cách mạng
+ Làm sáng tỏ mối quan hệ giữa triết học với các khoa học cụ thể, xác định nhiệm vụ của triết học là thực hiện chức năng thế giới quan và phương pháp luận.
+ Trở thành hệ tư tưởng vũ khí tinh thần của giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh thực hiện nội dung sứ mệnh lịch sử của nó.
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">10- tại sao lại gọi là triết học mác lê nin [/B]
Trả lời
Có thể vắn tắt: Ta thấy Mác và ănghen là hai nhà sáng lập, đề xuất, cần khẳng định công lao lao đó là thuộc về cả hai ông. Còn việc chỉ lấy tên Mác thì đó là xuất phát từ nguyện vọng của Ănghen. Còn việc ghép tên Lê nin là do công lao suất sắc của Lê nin trong việc <B style="mso-bidi-font-weight: normal">bảo vệ [/B]và <B style="mso-bidi-font-weight: normal">phát triển [/B]nhiều luận điểm triết học Mác, hơn nưa là sự suy tôn của hậu thế (các nước Xã hội chủ nghĩa) về việc vận dụng một cách suất sắc trong thực tế chủ nghĩa Mác mà Lênin là người tiên phong.

phongdt206cn677
10-26-2006, 12:32 PM
http://www.e-ptit.edu.vn/clbsv/images/smileys/smiley4.gif

trangltt206qt576
10-30-2006, 05:39 PM
thầy ơi cho em hỏi : Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề cơ bản của triết học là sao. Em chưa hiểu về nó

thuynt206cn450
11-01-2006, 04:57 PM
Thầy dạy triết học cho em hoi bai tap điều kiện cho khóa 2.2 thầy soạn chưa vây. Chỉ giúp em.

hoangv206cn807
11-06-2006, 09:25 AM
Mình có nghe thầy nói phải có bài thu hoạch thì mới được thi. Bạn nào có thông tin thì share cho mình với.

tuanhn206dt078
11-07-2006, 11:24 AM
À chỉ riêng HK I thôi thì bạn có thể nộp bổ sung sau khi thi HK xong nhưng vẫn phải nộp đầy đủ BTH thì mới được xét kết thúc môn. Còn từ HK II thì bắt buộc phải nộp trong time trước khi thi đấy

tuannn106cn436
11-07-2006, 06:06 PM
Hic! Sắp đến time nộp bài Đk rồi mà vào topic này chẳng thấy có gì hướng dẫn. Nản quá!!!http://www.e-ptit.edu.vn/clbsv/images/smileys/smiley13.gif

tuannn106cn436
11-07-2006, 06:08 PM
Ủa! có điều lệ đó nữa hả?! Sao ko thấy thầy cô thông báo như vậy nhỉ?!

pd_truong
11-08-2006, 10:40 AM
Tôi xin trả lời một số câu hỏi các anh chị đưa ra như sau:


- Việc làm bài tập điều kiện là các anh chị phải tự làm, còn các anh chị không hiểu chỗ nào có thể post lên diễn đàn để hỏi các thầy cô giáo giảng dạy


- Câu hỏi bài tập điều kiện môn Triết học chúng tôi đã gửi tới các anh chị rồi, nếu các anh chị mà chưa nhận được, liên hệ giáo viên chủ nhiệm để xin lại đề bài tập điều kiện


Một anh (chị) sinh viên hỏi là Ý nghĩa của việc nghiên cứu các vấn đề cơ bản của Triết học là gì. Tôi sẽ gửi câu hỏi cho Thầy Hưng và thầy đó sẽ trả lời. Khi nào thầy có bài trả lời tôi sẽ post lên diễn đàn để anh chị cùng tham khảo


Rất mong nhận được sự hợp tác của các anh chị

hoangv206cn807
11-10-2006, 10:04 PM
Vậy bạn nào làm rồi thì email cho mình với. Chỉ tham khảo thôi.


Email: jjhoangvu@yahoo.com


Cám ơn nhiều.

ducnhm206cn273
11-11-2006, 05:08 AM
cac ban nao co bai thu xin hay up len de share cho moi nguoi tham khao voi

tuannn106cn436
11-15-2006, 11:07 PM
Bạn có thể vào đây (http://www.e-ptit.edu.vn/sv/forum_posts.asp?TID=7664&amp;PN=1)để tham khảo.


Chúc bạn học tốt!!!

tuannn106cn436
11-15-2006, 11:20 PM
Cảm ơn thầy Trường rất nhiều!

hoangv206cn807
11-18-2006, 09:11 PM
Cám ơn anh nhiều lắm. Sinh viên mới không có ai hướng dẫn thì chỉ còn cách tham khỏa bạn bè thôi.

cqhung
11-21-2006, 02:23 PM
Không phải nghe nói mà là quy định đấy.Edited by: cqhung

dungltq506qt009
11-21-2006, 07:37 PM
Cho em hỏi bài thu hoach và bài tập điều kiện có phải là một không??

nhunglt105qt077
11-22-2006, 03:37 PM
Cho em hỏi bài thu hoach và bài tập điều kiện có phải là một không??


Đúng đấy bạn ạ !

quanglucqls
11-22-2006, 04:32 PM
Nhunglt


Thu hoach co nghia la bai de kiem tra xem minh hoc duoc nhung gi


hay con goi la bai dieu kienvi vay neu khongthu hoach duoc gi thilam sao co du dieu kien de thi

thanhdt105qt653
11-22-2006, 05:49 PM
http://www.e-ptit.edu.vn/clbsv/images/smileys/smiley15.gif chào ban

phuht206cn591
11-24-2006, 10:22 AM
cho em hỏi ,khi viet nam gia nhap to chuc wto thi moi bang dai hoc ko phan biet tu xa hay chinh quy deu nhu nhau,va chuong trinh do bat dau tu nhung sinh vien nam 2006.vay truong ta co thuc hien nhu vay ko

phuht206cn591
11-24-2006, 10:26 AM
va thoi gian nop bai thu hoach


hien tai thi nop bai mon nao truoc.Neu ko nop thi sao?

nhunglt105qt077
11-25-2006, 10:52 AM
va thoi gian nop bai thu hoach


hien tai thi nop bai mon nao truoc.Neu ko nop thi sao?


Bạn vào đây xem cụ thể nhé !


http://www.e-ptit.edu.vn/tthoctap.php


Thường thì nộp mônnào trước cũng đc, mình thì hay làm xong hết và nộp một thể. Cứ đúng thời hạn nộp là được .


Nếu ko nộp thì ko đủ điều kiện thi môn đó !


Thế nhé chúc bạn làm bài tốt !

phuonglinh
03-10-2007, 10:37 AM
Các bạn gặp khó khăn gì về môn Triết hãy chuyển các câu hỏi vào mục này. Thầy Phạm Đức Trường sẽ nhiệt tình giải đáp cho các bạn.
Chúc mọi người đạt kết quả tốt môn học này.

sonvm106cn0600
03-10-2007, 06:00 PM
Thầy cô và các bạn có thể cho mình biết ngân hàng đề thi Triết ở phần nào không?

phuonglinh
03-10-2007, 06:10 PM
Thầy cô và các bạn có thể cho mình biết ngân hàng đề thi Triết ở phần nào không?



Bạn xem link này
http://www.e-ptit.edu.vn/lms/users/nhdt.php

admin
03-22-2007, 06:31 PM
Gửi các bạn Hướng dẫn ôn thi môn triết học được sưu tầm.

fangls206dt672
03-22-2007, 09:30 PM
Thật tuyệt vời, chúng ta có thể học theo sự hướng dẫn của admin. Admin ơi! có thể đưa thêm hướng dẫn môn kinh tế chính trị nữa nhé để chúng em học cho kịp và chính xác nữa.

liennt206qt533
04-06-2007, 11:28 AM
Cám ơn Admin đã gởi bài hướng dẫn trả lời câu hỏi triết, nhưng Admin ơi sao không in ra được thì làm sao tham khảo được?

thanhnt206cn335
04-06-2007, 12:03 PM
Cái này chỉ là hướng dẫn thôi. So với giáo trình thì cũ rồi. Nhưng dù sao cũng có ích

tramntb206qt406
04-13-2007, 04:12 PM
Nếu vậy thì dựa vào hướng dẫn trên để ôn thi hk thì có được ko ạh??

thanhnt206cn335
04-13-2007, 08:28 PM
Được chứ, nhưng nên dựa theo sách, phần hướng dẫn này chỉ nên để tham khảo. GV chấm bài dựa theo sách giáo trình

vunt206qt422
05-10-2007, 12:09 AM
thang Duongpk205cn029 cui bap wa

hieuhv207cn0077
07-26-2007, 11:31 AM
Mình chào tất cả các anh , các chị ,các em.. ! mình là lính đầu tiên tham gia vào diển đàn nên mong mọi người giúp đỡ mình với nhé .chuyện là giáo viên bộ môn muốn học viên nộp bài tập điều kiện mà mình không hình dung được là nội dung BTDK môn Triết học Mac - Lê nin là gì ... mong mọi người có thể upload lên 1 bài mẩu cho mình co thể tham khảo hoặc gởi mail riêng cho mình theo địa chỉ mail : huynhhieu_2005@yahoo.com. Mình cảm ơn mọi người trước nhe

sondx107cn0006
09-29-2007, 07:34 PM
troi oi bai tap dieu kien kho qua thay oi.
Bạn chú ý post bài có dấu.

hieutt207cn0214
10-04-2007, 05:55 PM
Mình cũng vậy, chưa mường tượng được BDK là như thế nào. Anh chị nào đã làm rồi có thể send cho em 1 bài mẫu được không. Email: hieu205_km@yahoo.com. Em cảm ơn các anh chị rất nhiều

hiepnh807cn0500
01-03-2008, 07:33 PM
Chao cac ban cn807 minh co nghe thong bao ve quy dinh nop bai thu hoach nhung chi chung chung thoi va chua duoc biet mat hai lop truong cua lop minh nen chua ro thong tin quy dinh ntn? neu cac ban biet hay share thong diep nay len cho ca lop cung xem nhe.
thanks!

dqchieu
01-10-2008, 05:21 PM
Kể từ ngày 15/01/2008, Thầy Phạm Thành Hưng sẽ thưường xuyên tham gia các diễn đàn môn học của Bộ môn Mác_Lênin.

Sinh viên có thể đặt các câu hỏi và cùng trao đổi.

dqchieu
01-10-2008, 05:30 PM
Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề cơ bản của Triết học là gì?
- Là cơ sở để biết được lập trường, quan điểm của một triết gia, một học thuyết triết học.
- Là cơ sở để đánh giá mức độ giải quyết....

hieuvq107dt0356
01-10-2008, 05:31 PM
Cám ơn Thầy. Em mở hàng luôn: Thầy Hưng cho em hỏi, em đang làm BTĐK môn Triết học - Mác Lê Nin nhưng câu hỏi:
Thực tiễn là gì? Phân tích vai trò của thực tiễn đối với nhận thức?
thì em làm theo sách hay phải phân tích cụ thể theo ý hiểu của mình? Em thấy câu định nghĩa thực tiễn là gì? có hai dòng là hết, nếu trả lời như vậy thì quá ngắn, còn phân tích thì em chưa biết phân tích như nào cả? Mông lung lắm.Còn câu: phân tích vai trò của thực tiễn đối với nhận thức thì tất nhiên phải phân tích rồi, mong thầy chỉ cho em vài chỉ dẫn để em phân tích hayhơn.
Cám ơn sự giúp đỡ của Thầy. Mong thầy giúp em.

dqchieu
01-17-2008, 05:49 PM
Trả lời câu hỏi của bạn hieuvt107dt0356 về lý luận và nhận thức
------------------------------------
Cám ơn Thầy. Em mở hàng luôn: Thầy Hưng cho em hỏi, em đang làm BTĐK môn Triết học - Mác Lê Nin nhưng câu hỏi:
Thực tiễn là gì? Phân tích vai trò của thực tiễn đối với nhận thức?
thì em làm theo sách hay phải phân tích cụ thể theo ý hiểu của mình? Em thấy câu định nghĩa thực tiễn là gì? có hai dòng là hết, nếu trả lời như vậy thì quá ngắn, còn phân tích thì em chưa biết phân tích như nào cả? Mông lung lắm.Còn câu: phân tích vai trò của thực tiễn đối với nhận thức thì tất nhiên phải phân tích rồi, mong thầy chỉ cho em vài chỉ dẫn để em phân tích hayhơn.
Cám ơn sự giúp đỡ của Thầy. Mong thầy giúp em.
------------------------------------

dqchieu trả lời: Tôi không phải là Giảng viên, nhất là không phải là người có chuyên môn về Triết. Tuy nhiên qua kiến thức đã học, tôi có thể mạo muộn trao đổi, gợi ý với bạn trả lời câu hỏi này như sau:

-------------------------------------
Thực tiễn là gì: về khái niệm trong tài liệu nêu rất vắn tắt, do đó một bài làm hoàn thiện cần có sự phân tích thêm, chỉ ra nội hàm của khái niệm (bản chất nó là gì, dấu hiệu gì phân biệt nó với cái khác).

Vai trò của thực tiến đối với nhận thức: Phân tích và chỉ ra được 4 ý: Thực tiễn là Cơ sở/Động lực/Mục đích và Chân lý của nhận thức (lý luận). Nếu có thể phân tích thêm về ý nghĩa, phương pháp luận của tính thống nhất giữa thực tiễn và lý luận nhận thức.

Để tiện tham khảo, xin đăng bài của tôi về vấn đề này như sau:

---------------------------------------

Thực tiễn là gì?

Phạm trù thức tiễn là một trong những phạm trù nền tảng, cơ bản không chỉ của lý luận nhận thức mácxít mà còn của toàn bộ triết học Mác – Lênin nói chung.
Các nhà duy vật trước C.Mác đã có công lớn trong việc phát triển thế giới quan duy vật và đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo và thuyết bất khả tri. Tuy nhiên, lý luận của họ còn nhiều hạn chế, thiếu sót, trong đó hạn chế lớn nhất là không thấy được vai trò của hoạt động thực tiễn đối với nhận thức, do đó chủ nghĩa duy vật của họ mang tính chất trực quan.
Có một số nhà triết học duy tâm, tuy đã thấy được mặt năng động, sáng tạo trong hoạt dộng của con người, nhưng cũng chỉ hiểu thực tiễn như là hoạt động tinh thần, chứ không hiểu nó như là hoạt động hiện thực, hoạt động vật chất cảm giác của con người.
Theo Triết học Mác-Lênin: Thực tiễn là những hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên, xã hội và bản thân con người.
Hoạt động của con người bao gồm hoạt động vật chất và hoạt động tinh thần. Hoạt động thực tiễn rất phong phú và đa dạng, song có thể chia làm 3 loại hình cơ bản:
+ Hoạt động sản xuất vật chất. Đây là dạng hoạt động thực tiễn nguyên thuỷ nhất và cơ bản nhất vì nó quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người và quyết định các dạng khác của hoạt động thực tiễn, nó tạo thành cơ sở của tất cả các hình thức khác của hoạt động sống của con người, giúp con người thoát khỏi giới hạn tồn tại của động vật.
+ Hoạt động chính trị- xã hội là loại hình thực tiễn nhằm biến đổi các quan hệ xã hội, chế độ xã hội.
+ Hoạt động thực nghiệm khoa học (bao gồm cả thực nghiệm khoa học tự nhiên và khoa học xã hội), đây là dạng hoạt động thực tiễn diễn ra trong những điều kiện " nhân tạo" mà những kết quả của nó dù là thành công hay thất bại đều có ý nghĩa quan trọng vì nó rút ngắn được quá trình nhận thức nhằm làm cho hoạt động thực tiễn ngày càng hiệu quả.

Vai trò của thực tiến đối với nhận thức?

Nhận thức là quá trình phản ánh tái tạo lại hiện thực trong tư duy con người trên cơ sở của thực tiễn - xã hội.
Lý luận là hệ thống các tri thức được khái quát từ thực tiễn, phản ánh những mối liên hệ bản chất, những quy luật của các sự vật- hiện tượng.

Như vậy, thực tiễn chính là cơ sở, điều kiện hình thành lên lý luận/nhận thức.Thực tiễn là cơ sở, là động lực, là muc đích và tiêu chuẩn của lý luận; lý luận hình thành, phát triển phải xuất phát từ thực tiễn, đáp ứng yêu cầu thực tiễn:
- Thực tiễn là cơ sở của lý luận: phần lớn những tri thức được khái quát thành lý luận là kết quả của hoạt động thực tiễn của con người. Mọi tri thức dù trực tiếp hay gián tiếp đối vơi người này hay người kia, thế hệ này hay thế hệ khác, ở trình độ kinh nghiệm hay lý luận xét đến cùng đều bắt nguồn từ thực tiễn
- Thực tiễn là động lực của lý luận: Trong quá trình hoạt động thực tiễn biến đổi thế giới, con người cũng biến đổi luôn cả bản thân mình, phát triển năng lực bản chất, năng lực trí tuệ của mình. Nhờ đó, con người ngày càng đi sâu vào nhận thức thế giới, khám phá những bí mật của thế giới, làm phong phú và sâu sắc tri thức của mình về thế giới. Thực tiễn còn đề ra nhu cầu, nhiệm vụ và phương hướng phát triển của nhận thức. Nhu cầu thực tiễn đòi hỏi phải có tri thức mới, phải tổng kết kinh nghiệm, khái quát lý luận, nó thúc đẩy sự ra đời và phát triển của ngành khoa học mới- khoa học lý luận.
- Thực tiễn là mục đích của nhận thức. Nhận thức phải quay về phục vụ thực tiễn. Kết quả nhận thức phải hướng dẫn chỉ đạo thực tiễn. Lý luận, khoa học chỉ có ý nghĩa thực sự khi chúng được vận dụng vào thực tiễn, cải tạo thực tiễn.
- Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý. Cần phải hiểu thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý một cách biện chứng; tiêu chuẩn này vừa có tính tuyệt đối vừa có tính tương đối.
*Lưu ý (ý nghĩa phương pháp luận): Việc tuyệt đối hóa vai trò của thực tiễn đối với lý luận/nhận thức sẽ dẫn đến bệnh kinh nghiệm: là sự tuyệt đối hoá những kinh nghiệm thực tiễn trước đây và áp dụn một cách máy móc vào hiện tại khi điều kiện đã thay đổi. Nguyên nhân xuất phát từ nhận thức, tri thức thấp, thành công tự phát. Bệnh kinh nghiệm (vùng với bệnh giáo điều) rất nguy hại. Để khắc phục có hiệu quả, cần quán triệt sâu sắc nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, bám sát thực tiễn và tăng cường lý luận, lý luận phải gắn liền với thực tiễn, khái quát từ thực tiễn.
--------------------------------------------
Các bạn có thểt tham khảo thêm từ nhiều nguồn khác. Ví dụ như:
http://chungta.com/Desktop.aspx/ChungTa-SuyNgam/Tu-Duy/Ve_moi_quan_he_bien_chung_giua_ly_luan_va_thuc_tie n/
---------------------------------------------

Mời các bạn tham gia trao đổi thêm để hoàn thiện và sáng tỏ hơn vấn đề.

----------------------------------------------

dqchieu
01-25-2008, 05:52 PM
Xin giới thiệu một đề cương bài giảng về Chương 5: Hai nguyên lý của phép biện chứng tại Website: http://www.huflit.edu.vn/kml/lebach/htm/Phan2-chuong5.htm để các bạn tham khảo (tôi thấy tóm tắt dễ hiểu).

-------------

ĐỀ CƯƠNG BÀI NĂM (CHƯƠNG V)
HAI NGUYÊN LÝ CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT

Phép biện chứng (dialectical method) đã trải qua 3 chặng đường trong lịch sử triết học:
- Phép biện chứng duy vật chất phác thời cổ đại.
-Phép biện chứng duy tâm của Hegel.
-Phép biện chứng duy vật của triết học Mác-Lênin. Phép biện chứng duy vậtđược trình bày trong 3 chương: Chương V - 2 nguyên lý (principle). Chương VI - 6 quy luật không cơ bản hay 6 cặp phạm trù cơ bản (category). Chương VII - Ba quy luật cơ bản (fundamental laws). Mối quan hệ giữa chúng thể hiện bằng sơ đồ dưới đây :

PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
http://www.huflit.edu.vn/kml/lebach/htm/images/phep_bien_chung_duy_vat_small.jpg
Nghiên cứu cả 3 chương, sẽ nắm vững phép (phương pháp) biện chứng duy vật. Trong quá trình nghiên cứu, cần phân biệt sự khác nhau giữa phép biện chứng duy vật và phép biện chứng duy tâm. Đặc biệt coi trọng việc vận dụng phép biện chứng duy vật trong hoạt động nhận thức và trong thực tiễn.
Mục đích yêu cầu chương V
Hiểu rõ nội hàm của phạm trù “mối liên hệ” và “Phát triển”. Nắm vững nội dung, tính chất của hai nguyên lí. Đặc biệt coi trọng việc vận dụng các bài học phương pháp luận rút ra từ hai nguyên lí đó trong hoạt động nhận thức và trong thực tiễn.
Nội dung
I. NGUYÊN LÝ (PRINCIPLE) VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN (universal relationship)
1- Định nghĩa phạm trù “mối liên hệ”(relationship)
MỐI LIÊN HỆlà phạm trù triết học dùng để chỉ sự tác động, quy định, chuyển hoá lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng, quá trình hay giữa các các mặt, các yếu tố bên trong củamột sự vật, hiện tượng, quá trình trong thế giới. (Lấy thí dụ trong tự nhiên, xã hội và tư duy để minh họa).
2- Vì sao giữa các sự vật, hiện tượng, quá trình trong vũ trụ, hoặc giữa các yếu tố bên trong của một sự vật, hiện tượng, quá trình đó lại có thể liên hệ được với nhau?
2.1- Quan điểm duy tâm: Do Chúa, ý chí tuyệt đối, Thượng đế, do cảm giác chủ qan của con người.
2.2- Quan điểm duy vật: Do chúng đều chỉ là các dạng khác nhau của một chỉnh thể thế giới thống nhất là thế giới vật chất duy nhất.
3- Các tính chất của mối liên hệ
3.1- Tính khách quan (objectiveness)
3.2- Tính phổ biến (universality)- Trong mọi lãnh vực: tự nhiên, xã hội, tư duy.
3.3- Tính đa dạng (diversity)- có nhiều loại liên hệ khác nhau, sự phân chia thành các loại liên hệ khác nhau chỉ mang tính tương đối, vì mỗi loại chỉ là một khâu, một mắt xích của mối liên hệ phổ biến:
- Bên trong và bên ngoài - Trực tiếp và gián tiếp
- Chung và riêng - Chủ yếu và thứ yếu
- Bản chất và không bản chất - Cơ bản và không cơ bản
- Tất nhiên và ngẫu nhiên - Nền tảng và phái sinh … Nói chung, các mối liên hệ: bên trong, bản chất, chủ yếu, tất nhiên giữ vai trò quyết định sự tồn tại và phát triển của sự vật. (sinh viên tự rút ra bài học về phương pháp luận).
4. Nội dung nguyên lý về mối liên hệ phổ biến : Các sự vật, hiện tượng, quá trình khác nhau của thế giới không những chúng tồn tại riêng biệt, mà còn liên hệ với nhau, nghĩa là tác động qua lại, quy định và chuyển hoá (mutation) lẫn nhau.
5. Bài học phương pháp luận (methodology): Phải có quan điểm toàn diện, quan điểm lịch sử-cụ thể trong hoạt động nhận thức và trong thực tiễn.
5.1- Trong nhận thức: Quan điểm toàn diện (đối lập với quan điểm phiến diện) đòi hỏiphải xem xét đầy đủ các mối liên hệ (bên trong, bên ngoài) của sự vật, đồng thời phải biết phân biệt các mối liên hệ khác nhau (tránh “cào bằng”), làm nổi bật cái cơ bản, cái quan trọng nhất của sự vật để tìm ra bản chất của sự vật. Quan điểm lịch sử-cụ thể đòi hỏi phải đặt sự vật trong không gian, thời gian cụ thể (hoàn cảnh lịch sử) mà xem xét, đánh giá. Bởi : Mọi sự vật chỉ được tạo thành và chỉ biểu hiện sự tồn tại của mình, bộc lộ bản chất của mình thông qua các mối liên hệ cụ thể diễn ra trong không gian, thời gian nhất định.
5.2- Trong thực tiễn: Giải quyết bất kì vấn đề gì, quan điểm toàn diện và quan điểm lịch sử-cụ thể đòi hỏi vừa phải thực hiện đồng bộ các giải pháp, vừa phải biết sử dụng giải pháp then chốt. (Chẳng hạn, muốn nâng cao chất lượng học tập của sinh viên, phải giải quyết đồng bộ các khâu : quản lí, chương trình, sách giáo khoa, cơ sở và phương tiện vật chất cho dạy và học, nhân cách thầy giáo, trình độ và tinh thần, thái độ, phương pháp học tập của sinh viên, môi trường xã hội, … trong đó giải pháp then chốt nằm trong khâu quản lí ngành và quản lí xã hội).

<A name=II>II. NGUYÊN LÝ VỀ SỰ PHÁT TRIỂN
1. Định nghĩa phạm trù “phát triển” (development):Phát triển là một phạm trù triết triết học dùng để chỉ quá trình vận động tiến lên của sự vật : từ thấp lên cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn.
2. Vì sao sự vật phát triển được và phát triển như thế nào
2.1. Quan điểm duy tâm, siêu hình (tr 215).
2.2. Quan điểm biện chứng duy vật
– Sự vật phát triển là do sự vận động của mâu thuẫn (contradiction) bên trong của nó, (sẽ học sau) nên quá trình phát triển của sự vật là quá trình tự thân (do đó mà sự phát triển mang tính khách quan).
– Sự vật phát triển theo phương thức nào? Quá trình phát triển của sự vật là quá trình phức tạp, không theo đường thẳng, mà diễn ra bằng con đường quanh co (trong đó có thể có bước thụt lùi tương đối). Sự phát triển được thực hiện theo phương thức : Thay đổi dần (tiệm tiến) về lượng (quantity) dẫn đến nhẩy vọt về chất (quality) theo con đường xoắn ốc (sẽ học sau).
3. Tính chất của sự phát triển:
- Khách quan (không phụ thuộc vào ý thức của con người).
– Phổ biến (diễn ra trong mọi lĩnh vực : tự nhiên, xã hội, tư duy).
– Đa dạng (Trong giới tự nhiên – Giới vô sinh : đơn chất thành hợp chất phức tạp. – Giới hữu sinh : Khả năng thích nghi với môi trường biến đổi, hoàn thiện quá trình trao đổi chất, tự sản sinh ra chính mình ngày càng hoàn thiện hơn. Trong xã hội: năng lực chinh phục tự nhiên và sống hoà hợp với tự nhiên, sự cải biến xã hội ngày một tốt hơn. Trong phát triển tư duy, phát triển con người).
4. Nội dung nguyên lý về sự phát triển: Sự phát triển (trong đó sự vật mới thay thế sự vật cũ) là hiện tượng diễn ra không ngừng trong tự nhiên, trong xã hội, trong bản thân con người và trong tư duy. Nếu xét từng trường hợp cá biệt thì có vận động đi lên, vận động tuần hoàn, vận động đi xuống; song nếuxét cả quá trình vận động với không gian rộng và thời gian dài thì phát triển (vận động đi lên) là khuynh hướng (tendency) chung của mọi sự vật.
5. Bài học về phương pháp luận:
Trong hoạt động nhận thức và trong thực tiễn, phải có quan điểm phát triển khi xem xét các sự vật, hiện tượng. Nghĩa là: khi xem xét các sự vật, hiện tượng, đòi hỏi phải đặt chúng trong sự vận động của chúng. Không chỉ thấy trạng thái hiện tại, mà còn phải thấy khuynh hướng sắp tới của chúng (lên hoặc xuống), phải thấy từng giai đoạn trong quá trình phát triển, với tính chất quanh co, phức tạp vốn có của chúng. Có quan điểm phát triển sẽ khắc phục được tư tưởng bảo thủ, trì trệ, định kiến, bi quan … (Lấy thí dụ trong tự nhiên, xã hội và tư duy).



<A name=CH>A. CÂU HỎI ÔN TẬP

Làm các bài tập trong trang 223 Giáo trình Triết học.
B. TRẮC NGHIỆM

1. Mối liên hệ có những tính chất gì cơ bản?
a. Khách quan, phổ biến, đa dạng
b. Khách quan, phổ biến, biện chứng
c. Khách quan, phổ biến, liên tục

2. Quan điểm nào cho rằng các sự vật, hiện tượng tồn tại biệt lập, tách rời nhau, cái này tồn tại bên cạnh cái kia?
a. Quan điểm siêu hình
b. Quan điểm biện chứng
c. Cả hai câu trên đều sai

3. Quan điểm nào cho rằng các sự vật, hiện tượng, các quá trình khác nhau vừa tồn tại độc lập, vừa quy định, tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau?
a. Quan điểm siêu hình
b. Quan điểm biện chứng
c. Quan điểm duy tâm

4. Khẳng định mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng do sự quy định của các lực lượng siêu nhiên là quan điểm của:
a. Chủ nghĩa duy tâm chủ quan
b. Chủ nghĩa duy tâm khách quan
c. Chủ nghỉa duy vật siêu hình
d. Chủ nghĩa duy vật biện chứng

5. Tính thống nhất vật chất của thế giới là cơ sở của mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng. Đây là quan điểm của:
a. Chủ nghĩa duy tâm khách quan
b. Chủ nghĩa duy tâm chủ quan
c. Chủ nghã duy vật siêu hình
d. Chủ nghĩa duy vật biện chứng

6. Quan điểm nào cho rằng sự phát triển chỉ là sự tăng, giảm đơn thuần về mặt lượng, không có sự thay đổi về chất?
a. Quan điểm siêu hình
b. Quan điểm biện chứng
c. Quan điểm duy tâm
7. Phát triển là quá trình:
a. Tiến lên theo đường vòng khép kín
b. Tiến lên theo đường quanh co khúc khuỷu, thăng trầm, phức tạp
c. Quá trình tiến lên theo đường thẳng tắp

8. Sự vật mới ra đời bao giờ cũng trên cơ sở những cái đã có của sự vật cũ, qua đó tiến hành chọn lọc những cái tích cực, tiến bộ, phù hợp để tiếp tục phát triển. Điều này thể hiện tính chất gì của sự phát triển?
a.Tính khách quan
b.Tính phổ biến
c.Tính đa đạng, phong phú
d. Tính kế thừa

9. Quan điểm nào góp phần khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, định kiến trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn?
a. Quan điểm lịch sử cụ thể
b. Quan điểm toàn diện
c. Quan điểm phát triển

10. Quan điểm tồn diện, quan điểm lịch sử cụ thể v quan điểm pht triển được rt ra từ:
a. Mối quan hệ giữa vật chất v ý thức
b. Hai nguyên lý cơ bản của php biện chứng duy vật
----------------------------

dqchieu
01-28-2008, 06:04 PM
Gặp câu hỏi về vấn đề này, chúng ta có thể nêu, trình bày những nội dung chính sau:

1-Thế giới quan là gì?
Thế giới quan là toàn bộ những quan điểm, quan niệm của con người về thế giới, về bản thân con người, về cuộc sống và vị trí của con người trong thế giới ấy.
Về nội dung, thế giới quan phản ánh thế giới ở 3 góc độ:
- Các đối tượng bên ngoài chủ thế
- Bản thân chủ thể, và
- Mối quan hệ giữa chủ thể với các đối tượng bên ngoài chủ thể.
Về hình thức, TGQ biểu hiện dưới dạng các quan điểm, quan niệm rời rạc, cũng có thể biểu hiện dưới dạng hệ thống lý luận chặt chẽ. Xét một cách hệ thống, các hình thức cơ bản của thế giới quan được thể hiện bởi 3 hình thức: TGQ huyền thoại, TGQ tôn giáo và TGQ triết học.
Về cấu trúc, là hiện tượng tinh thần, TGQ có cấu trúc phức tạp và được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau, song hai yếu tố cơ bản của TGQ là tri thức và niềm tin.
Về chức năng, TGQ có các chức năng: nhận thức, xác lập giá trị, đánh giá, điều chỉnh hành vi,, mà khái quát lại là chức năng định hướng cho toàn bộ các hoạt động sống của con người.

2- Các hình thức cơ bản của thế giới quan?
Là kết quả của quá trình nhận thức, TGQ phát triển theo sự phát triển nhận thức. Cho đến nay, TGQ đã được thể hiện dưới 3 hình thức cơ bản:
- TGQ huyền thoại: là TGQ có nội dung pha trộn một cách không tự giác giữa thực và ảo. Là sản phẩm chủ yếu của nhận thức cảm tính, là phương thức cảm nhận thế giới của người nguyên thuỷ, có đặc điểm là các yếu tố tri thức và cảm xúc, lý trí và tín ngưỡng, hiện thực và tưởng tượng, cái thật và cái ảo, cái thần và cái người hoà quyện vào nhau thể hiện quan niệm về thế giới
- TGQ tôn giáo: là TGQ có niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh của lực lượng siêu nhiên đối với thế giới, đối với con người, được thể hiện qua các hoạt động có tổ chức để suy tôn, sùng bái lực lượng siêu nhiên ấy.
- TGQ triết học: là TGQ được thể hiện bằng hệ thống lý luận thông qua hệ thống các khái niệm, các phạm trù, các quy luật. Nó không chỉ nêu ra các quan điểm, quan niệm của con người về thế giới và bản thân con người mà còn chứng minh các quan điểm, quan niệm đó bằng lý luận. Như vậy, Triết học được coi như trình độ tự giác trong quá trình hình thành phát triển của thế giới quan. Triết học là hạt nhân lý luận của thế giới quan, đóng vai trò định hướng, củng cố và phát triển thế giới quan của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng trong lịch sử.
3-Thế giới quan duy vật biện chứng
Thế giới quan duy vật: là TGQ thừa nhận bản chất thế giới là vật chất, thừa nhận vai trò quyết định của vật chất đối với các biểu hiện của đời sống tinh thần và thừa nhận vị trí, vai trò của con người đối với đời sống hiện thực.
TGQ duy vật cũng thừa nhận sự tồn tại của các hiện tượng tinh thần, song khẳng định vật chất là cái có trước, tinh thần có sau và bị vật chất quyết định.
TGQ duy vật biện chứng là TGQ duy vật được xây dựng, phát triển trên cơ sở của phép biện chứng duy vật, trên cơ sở khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy.
4-Bản chất của thế giới quan duy vật biện chứng
Bản chất của TGQ duy vật biện chứng là: chỉ có một thế giới quan duy nhất và thống nhất là thế giới vật chất; trong thế giới vật chất, vật chất là nguồn gốc của ý thức, quyết định ý thức song ý thức có thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người.
Bản chất của TGQ duy vật biện chứng là thành tựu hoạt động thực tiễn, thành tựu tư duy khoa học của nhân loại trong quá trình nhận thức và phản ánh thế giới. Bản chất của TGQ duy vật biện chứng được thể hiện ở 4 góc độ sau:
a) Giải quyết đúng đắn vấn đề cơ bản của triết học trên quan điểm thực tiễn
Vấn đề cơ bản của triết học là mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại, hay mối quan hệ giữa ý thức và vật chất. Về vấn đề này, chủ nghĩa duy tâm đã tuyệt đối hoá vai trò của ý thức; chủ nghĩa duy vật trước Mác lại không duy vật triệt đề (duy vật về tự nhiên, những duy tâm về xã hội) và không thấy được sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất.
Bằng việc đưa quan điểm thực tiễn vào hoạt động nhận thức, đặc biệt việc thấty vai trò quyết định của hoạt động sản xuất vật chất đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội, các nhà duy vật đã khắc phục được hạn chế của CNDV trước đó để giải quyết thoả đáng vấn đề cơ bản của triết học, đó là vật chất là nguồn gốc của ý thức, quyết định ý thức song ý thức có thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người.
b) Sự thống nhất hữu cơ của thế giới quan duy vật với phép biện chứng
TGQ duy vật biện chứng với sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật với phép biện chứng. Sự thống nhất này đã đem lại cho con người một quan niệm hoàn toàn mới về thế giới- quan niệm thế giới là một quá trình với tính cách vật chất không ngừng vận động, chuyển hoá và phát triển.
c) Quan niệm duy vật triệt để
Khẳng định nguồn gốc vật chất của xã hội; khẳng định SXVC là cơ sở của đời sống xã hội, phương thức SX quyết định quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói chung; tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội và coi sự phát triển của xã hội loài người là một quá trình lịch sử- tự nhiên.
Như vậy các nhà triết học Mác xít đã phát triển CNDV trở lên hoàn bị bằng việc từ chỗ duy vật trong nhận thức giới tự nhiên đến việc duy vật cả trong nhận thức xã hội loài người.
d) Tính thực tiễn-cách mạng thể hiện ở
- TGQ DVBC không chỉ giải thích thế giới mà còn đóng vai trò cải tạo thế giới bằng việc phản ánh đúng thế giới, định hướng hoạt động của con người phù hợp với quy luật vận động và phát triển khách quan của thế giới.
- TGQ DVBC phản ánh đúng đắn các quy luật chi phối sự vận động và phát triển; qua đó, quá trình xoá bỏ cái cũ, cái lỗi thời để xác lập cái mới, cái tiến bộ hơn là tất yếu.
--------------------
Như vậy từ các hiểu biết về thế giới chúng ta có được bức tranh về thế giới trong ý thức tức THẾ GIỚI QUAN và từ đó nó quyết định lại thái độ và hành vi đối với thế giới.
Có một thế giới quan đúng đắn sẽ hướng con người hoạt động theo sự phát triển lôgic của xã hội và góp phần vào sự tiến bộ của xã hội.Vì thế, thế giới quan là trụ cột về mặt hệ tư tưởng của nhân cách, là cơ sở cho đạo đức, chính trị và hành vi.

ngocpv107dt0321
02-26-2008, 10:45 PM
làm thế nào để trao dồi được môn triết học vào đầu nhỉ.hichic. chỉ nghe và chép ko thì nhàm quá.chắc là chỉ có con đường học.nhưng học cũng khó vào.ai có bí quyết nào khác ko?

nhanmt207cn0312
03-04-2008, 01:21 AM
Thầy ­­Hưng cho em hỏi câu này :
Vì sao nói : phát triển là một cuộc đấu tranh của các mặt đối lập ? Hãy nêu một số loại mâu thuẫn của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay?
Theo thầy câu này ta nên dựa vào sách hay vào thực tế xã hội nước ta hiện nay để trả lời. Và cho em hỏi thêm trả lời bài tập điều kiện có quy định bao nhiêu trang A4 ko nếu có thì tối thiểu bao nhiu trang và nếu em đánh máy bài trả lời được ko?
Thank thầy!

pt_hung
03-06-2008, 12:40 AM
-"phát triển là một cuộc đấu tranh của các mặt đối lập"?
Trả lời:
trước hết cần xem lại định nghĩa phát triển và nội dung qui luật về sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập. Có thể trả lời vắn tắt có tính chất gợi ý: Phát triển cũng là vận động biến đổi, mà đấu tranh của các mặt đối lập là nguyên nhân, động lực của mọi sự vận động biến đổi.

nhanmt207cn0312
03-06-2008, 04:46 AM
-"phát triển là một cuộc đấu tranh của các mặt đối lập"?
Trả lời:
trước hết cần xem lại định nghĩa phát triển và nội dung qui luật về sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập. Có thể trả lời vắn tắt có tính chất gợi ý: Phát triển cũng là vận động biến đổi, mà đấu tranh của các mặt đối lập là nguyên nhân, động lực của mọi sự vận động biến đổi.

Thank thầy, em sẽ dựa vào gợi ý để tra lời. :adore:

pthung
03-31-2008, 04:06 PM
Hãy nêu một số loại mâu thuẫn của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay?
Theo thầy câu này ta nên dựa vào sách hay vào thực tế xã hội nước ta hiện nay để trả lời. Và cho em hỏi thêm trả lời bài tập điều kiện có quy định bao nhiêu trang A4 ko nếu có thì tối thiểu bao nhiu trang và nếu em đánh máy bài trả lời được ko?
trả lời: yêu cầu sử dụng cả sách và thực tế xã hội- mục đích để nắm được các loại mâu thuẫn mặt khác, còn là tập vận dụng quan điểm triết học vào cuộc sống.
không có qui định nào về số trang, tuy nhiên yêu cầu nội dung trả lời phải đảm bảo kiến thức tối thiểu (điều này này chỉ đánh giá được khi em nộp bài).
qui định của g/v là viết tay để hạn chế việc sao chép, đối phó.
em thử định dạng các mâu thuẫn sau đây thuộc loại mâu thuẫn nào nhé:
- mâu thuẫn giữa tính tự phát của nền kinh tế thị trường với tính định hướng theo mục tiêu xhcn
-mâu thuẫn giữa lợi ích của các chủ thể kinh tế với lợi ích toàn xã hội
- mâu thuẫn giữa trình độ thấp của llsx với vai trò chủ đạo của quan hệ sản xuất mới xhcn
- mâu thuẫn giữa yêu cầu giải phóng llsx (yéu kém trong thời kỳ bao cấp) với khả năng giữvững địng hướng

nghiantt107cn0341
04-27-2008, 04:44 PM
Sao ma minh dow chang duoc gi ca????????????????????????????

toannt108dt0011
09-16-2008, 01:11 AM
tự làm lấy hay hơn
dù gì cũng là bài cảu mình ma
đúng không

chuongtq208dt016
10-07-2008, 01:22 AM
các anh cho em hỏi nếu làm bài tập điều kiện tốt có đựoc miễm thi không!? cái này em chỉ nghe nói thôi xin đừng cườii em út nha

hungdv205qt473
10-07-2008, 09:15 AM
bài tập điều kiện đạt mới được công nhận kết quả thi , không có trường hợp làm bài tập tốt là được miễm thi
Thân chúc học giỏi

mvminh110vt065
10-23-2010, 03:14 AM
các anh chị ơi! emlaf thành viên mới của trường mình .các anh chị cho em hỏi học DHTX có khó không a! em nhờ các anh chị đi trước giúp đỡ em nheng. em xin chân thành cảm ơn

em ko biết làm thế nào để tải adobe 7 thi phải làm thế nao hả các anh chị. các anh chị bao em với nhé! em xin cảm ơn .

hieuvq107dt0356
10-23-2010, 04:22 AM
các anh chị ơi! emlaf thành viên mới của trường mình .các anh chị cho em hỏi học DHTX có khó không a! em nhờ các anh chị đi trước giúp đỡ em nheng. em xin chân thành cảm ơn

em ko biết làm thế nào để tải adobe 7 thi phải làm thế nao hả các anh chị. các anh chị bao em với nhé! em xin cảm ơn .
Học Hệ Từ xa là dễ nhất và thoải mái nhất trong các hệ học rồi em à.

Em vào link dưới đây để tải Adobe Reader nhé.
http://get.adobe.com/reader/otherversions/
Bước 1: Chọn hệ điều hành.
Bước 2: Chọn ngôn ngữ.
Bước 3: Chọn phiên bản ( hiện tại mới nhất là bản 9.4 ).
Bước 4: Nhấn Download.

dtmen110qt364
11-06-2010, 12:11 PM
thANK NHIU NHIU

Cac Anh Chi Oi Gui Bai Kiem Tra Dieu Kien Cho Em Voi

dttrang09cn4019
11-11-2010, 12:58 PM
cam un anh chy nhak

chuhd211vt009
10-24-2011, 02:36 PM
Thực sự tôi là dân kỹ thuật, khi học triết học, nhất là triết học Mác Lênin, càng đọc càng thích, bởi nó có rất nhiều khái niệm rất triết lý, rất khoa học, giống như việc học chuyên ngành kỹ thuật, đó là rõ các khái niệm chuyên ngành, vì thế học triết học trước nhất phải học theo kiểu hiểu khái quát từng ý nghĩa câu, từng đoạn, sau đó tìm hiểu sâu vào các khái niệm. Chắc chắn triết học không bao giờ gọi là "khoai' hay "trả nợ" cả.

B128104005
07-10-2014, 11:07 PM
??