Tên người dùng: Mật mã:
Câu lạc bộ sinh viên

TIN TỨC

Sách Bài giảng (ebook) các môn học đã có

Tra cứu điểm các môn học|Hướng dẫn

Các bài thi thử trắc nghiệm trực tuyến

Ngân hàng đề thi các môn học



Go Back   Câu lạc bộ sinh viên > Diễn đàn các môn học > Môn đại cương > Kinh tế chính trị

Gởi Ðề Tài Mới  Trả lời
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
  #11  
Old 08-31-2006
pd_truong's Avatar
pd_truong pd_truong is offline
Senior Member
 
Tham gia ngày: Nov 2005
Nơi Cư Ngụ: Vietnam
Bài gởi: 318
Thanks: 1
Thanked 125 Times in 45 Posts

Level: 16 [♥ Bé-Yêu ♥]
Life: 0 / 391
Magic: 106 / 10104
Experience: 67%

Default



Các câu trả lời về phần kinh tế chính trị, các anh chị em sinh viên chúng ta phải chờ một vài ngày nữa, hiện tại các giáo viên dạy học môn này đang phải đi công tác (đi học hàm thụ theo yêu cầu của Bộ giáo dục và đào tạo)


Khi nào các thầy cô về chúng tôi sẽ có câu trả lời cho các anh chị


Trân trọng cảm ơn và mong nhận được sự ủng hộ
__________________
Trả Lời Với Trích Dẫn
Những người đã cám ơn bài viết của pd_truong ở trên:
  #12  
Old 09-07-2006
pd_truong's Avatar
pd_truong pd_truong is offline
Senior Member
 
Tham gia ngày: Nov 2005
Nơi Cư Ngụ: Vietnam
Bài gởi: 318
Thanks: 1
Thanked 125 Times in 45 Posts

Level: 16 [♥ Bé-Yêu ♥]
Life: 0 / 391
Magic: 106 / 10104
Experience: 67%

Default

<B style="mso-bidi-font-weight: normal">HƯỚNG DẪN TRẢ LỜI[/b]
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">[/b]
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">Câu 1:[/b] Về chính sách kinh tế nhiều thành phần ở Việt <st1:country-region><st1lace>Nam</st1lace></st1:country-region> hiện nay
Thứ nhất, Phải làm r tính tất yếu khách quan tồn tại nhiều thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt <st1:country-region><st1lace>Nam</st1lace></st1:country-region>:
Sự tồn tại kinh tế nhiều thành phần là đặc trưng trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và là tất yếu khách quan. Bởi vì:
+ Một số thành phần kinh tế của phương thức sản xuất cũ (như kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân) để lại, chúng đang có tác dụng đối với sự phát triển lực lượng sản xuất
+ Một số thành phần kinh tế mới hình thành trong quá trình cải tạo và xây dựng quan hệ sản xuất mới (như kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư bản nhà nước).
+ Nguyên nhân cơ bản suy đến cùng là do quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất quy định. Thời kỳ quá độ ở nước ta, do trình độ lực lượng sản xuất còn rất thấp, lại phân bố không đều giữa các ngành, vùngnên tất yếu còn tồn tại nhiều loại hình, hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế.
+ Do yêu cầu của việc hình thành và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Thứ hai, Thấy được tác dụng, ý nghĩa của việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần:
+ Sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế, tức là tồn tại nhiều hình thức tổ chức kinh tế, nhiều phương thức quản lý phù hợp với trình độ khác nhau của lực lượng sản xuất. Nhờ đó có tác dụng thúc đẩy tăng năng suất lao động, tăng trưởng kinh tế
+ Giải phóng lực lượng sản xuất, khai thác và phát huy các nguồn lực trong và ngoài nước vào đầu tư phát triển.
+ Tăng công ăn việc làm cho người lao động.
+ Tăng khả năng cạnh tranh thúc đẩy sản xuất và dịch vụ phát triển có hiệu quả hơn.
+ Làm cho quan hệ cung cầu hàng hoá phát triển theo hướng thoả mãn nhu cầu và thái độ phục vụ đối với khách hàng tốt hơn.
Thứ ba, Qua thực tiễn của hơn 15 năm đổi mới, Đại hội Đảng X có sự kế thừa và phát triển về nhận thức đã đưa ra cơ cấu thành phần kinh tế ở Việt nam bao gồm 5 thành phần kinh tế như sau:
- Kinh tế nhà nước, trong đó doanh nghiệp nhà nước là bộ phận nòng cốt nắm giữ những vị trí then chôt và trọng yếu.
- Kinh tế tập thể, với nhiều hình thức đa dạng, trong đó hợp tác xã là nòng cốt, dựa trên sở hữu của các thành viên và tập thể.
- Kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân ) tồn tại cả ở nông thôn và thành thị, có vị trí quan trọng lâu dài, được khuyến khích giúp đỡ phát triển, khuyến khích phát triển rộng rãi trong những ngành mà pháp luật không cấm.
- Kinh tế tư bản nhà nước, là sản phẩm sự can thiệp và của nhà nước với tư bản tư nhân, là hình thức kinh tế quá độ gắn với chính sách kinh tế quá độ.
- Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, với nhiều đối tác khác nhau, chủ yếu dưới hình thức 100% vốn nước ngoài.
Thứ t ư, Nội dung chủ yếu của chính sách kinh tế nhiều thành phần là:
+ Khẳng định các thành phần kinh tế hoạt động heo pháp luật và đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bình đẳng trước pháp luật cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh
+ Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo môi trường và điều kiện thúc đẩy các thành thành phần kinh tế cùng phát triển. Kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế
+ Xóa bỏ mọi sự phân biệt đối xử theo hình thức sở hữu, nhà nước chỉ thực hiện việc ưu đãi hoặc hỗ trợ phát triển đối với một số ngành, lĩnh vực, sản phẩm, một số mục tiêu như xuất khẩu, tạo việc làm xóa đói giảm nghèo, khắc phục rủi ro, một số địa bàn, các doanh nghiệp vừa và nhỏ
+ Thực hiện chiến lược quốc gia về phát triển doanh nghiệp. Xây dựng một số hệ thống doanh nghiệp Việt Nam nhiều về số lượng, có sức cạnh tranh cao,có thương hiệu uy tín, trong đó chủ lực là một số tập đoàn kinh tế lớn dựa trên hình thức cổ phần. Nhà nước định hướng tạo môi trường để phát triển có hiệu quả các doanh nghiệp theo cơ chế thị trường, bồi dưỡng đào tạo và tôn vinh các doanh nhân có tài, có đức và thành đạt
Một số nội dung cụ thể:
- Tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước
- Tiếp tục đổi mới và phát triển các loại hình kinh tế tập thể
- Phát triển mạnh các hộ kinh doanh cá thể và các loại hình của doanh nghiệp tư nhân
- Thu hút mạnh nguồn lực của các nhà đầu tư nước ngoài


<B style="mso-bidi-font-weight: normal">Câu 2:[/b] Đặc điểm của cách mạng khoa học công nghệ hiện nay?
-Thế giới đã trải qua hai cuộc cách mạng kỹ thuật.
+Cuộc cách mạng kỹ thuật lần thứ nhất diễn ra đầu tiên ở nước Anh vào 30 năm cuối thế kỷ XVIII và hoàn thành vào những năm 50 đầu thế kỷ XX với nội dung chủ yếu là cơ khí hoá, thay thế lao động thủ công bằng lao động sử dụng máy móc.
+Cuộc cách mạng kỹ thuật lần II còn gọi là cuộc cách mạng khoa học- công nghệ hiện đại, xuất hiện vào những năm 50 của thế kỷ XX. Mới mấy thập niên trôi qua, nhất là thập niên gần đây, cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại đã làm nên sự thay đổi to lớn trên nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị và xã hội. Cuộc cách mạng này có nhiều nội dung, song có 5 nội dung chủ yếu sau:
- Về tự động hoá: Sử dụng ngày càng nhiều máy tự động quá trình, máy công cụ điều khiển bằng số, rôbốt.
- Về năng lượng: Ngoài những dạng năng lượng truyền thống (nhiệt điện, thuỷ điện) ngày nay đã và đang chuyển sang lấy dạng năng lượng nguyên tử là chủ yếu và các dạng năng lượng sạch như năng lượng mặt trời
- Về vật liệu mới: Chỉ chưa đầy 40 năm trở lại đây các vật liệu mới đã xuất hiện với nhiều chủng loại rất phong phú và có nhiều tính chất đặc biệt mà vật liệu tự nhiên không có được. Ví dụ: vật liệu tổ hợp (Composit); gốm Zincôn hoặc cácbuasilich chịu nhiệt cao
- Về công nghệ sinh học: Được ứng dụng ngày càng nhiều trong công nghiệp, nông nghiệp, y tế, hoá chất, bảo vệ môi trường như công nghệ vi sinh, kỹ thuật cuzin, kỹ thuật gen và nuôi cấy tế bào.
- Về điện tử và tin học: Đây là lĩnh vực vô cùng rộng lớn, hấp dẫn đang được loài người đặc biệt quan tâm, nhất là lĩnh vực máy tính diễn ra theo 4 hướng: nhanh (máy siêu tính), nhỏ (vi tính), máy tính có xử lý kiến thức (trí tuệ nhân tạo), máy tính nói từ xa (viễn tin học).
Từ nội dung của cuộc cách mạng khoa học công nghệ nêu trên, ta thấy có hai đặc điểm chủ yếu sau:
+ Một là, khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp (bao gồm cả khoa học tự nhiên kỹ thuật lẫn khoa học xã hội, nhất là khoa học kinh tế) do con người tạo ra và thông qua con người đến lực lượng sản xuất. Nó đòi hỏi cần phải có chính sách đầu tư cho khoa học, kỹ thuật, công nghệ tương ứng.
+ Hai là, thời gian cho một phát minh mới của khoa học ra đời thay thế cho phát minh cũ có xu hướng rút ngắn lại và phạm vi ứng dụng của một thành tựu khoa học vào sản xuất và đời sống ngày càng mở rộng. Nó đòi hỏi cần được kết hợp chặt chẽ giữa chiến lược khoa học công nghệ với chiến lược kinh tế xã hội.

<B style="mso-bidi-font-weight: normal">Câu 3:[/b] <B style="mso-bidi-font-weight: normal"><I style="mso-bidi-font-style: normal">Mối quan hệ, vai trò của cách mạng khoa học công nghệ với sự nghiệp CNH, HĐH ở Việt [/i][/b]<st1lace><st1:country-region><B style="mso-bidi-font-weight: normal"><I style="mso-bidi-font-style: normal">Nam[/i][/b]</st1:country-region></st1lace><B style="mso-bidi-font-weight: normal"><I style="mso-bidi-font-style: normal">?[/i][/b]
+ Trước hết phải khẳng định rằng: thực hiện cuộc cách mạng khoa học công nghệ để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, phát triển lực lượng sản xuất là nội dung cơ bản của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
+ Vị trí của cuộc cách mạng khoa học công nghệ là then chốt, là động lực chính của quá trình công nghệp hoá. Đảng ta xác định khoa học công nghệ phải được xác định là quốc sách, một động lực cần đem toàn lực để nắm lấy và phát triển nó
+ Công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá có thành công hay không, nhanh hay chậm phụ thuộc vào chính cuộc cách mạng khoa học công nghệ
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">+ [/b]Ngược lại việc xác định đúng đắn về mục tiêu, phương hướng, con đường, cách thức tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá là nhân tố quan trọng, quyết định đến cuộc cách mạng khoa học công nghệ
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ ở nước ta hiện nay có thể khái quát gồm hai nội dung chủ yếu sau:
- Một là, xây dựng thành công cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội để dựa vào đó mà trang bị công nghệ hiện đại cho các ngành kinh tế quốc dân.
- Hai là, tổ chức nghiên cứu, thu thập thông tin, phổ biến ứng dựng những thành tựu mới của khoa học công nghệ hiện đại vào sản xuất, đời sống với những hình thức, bước đi, quy mô thích hợp.
Trong quá trình thực hiện cách mạng khoa học công nghệ chúng ta cần lưu ý:
- Ứng dụng những thành tựu mới, tiên tiến về khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và từng bước phát triển nền kinh tế tri thức.
- Sử dụng công nghệ mới gắn với yêu cầu tạo nhiều việc làm, tốn ít vốn, quay vòng nhanh, giữ được nghề truyền thống với công nghệ hiện đại.
- Tăng đầu tư ngân sách và huy động các nguồn lực khác cho khoa học và công nghệ; kết hợp phát triển cả bề rộng lẫn chiều sâu, xây dựng mới, cải tạo cũ, thực hiện tiết kiệm, hiệu quả.
- Kết hợp các loại quy mô lớn, vừa và nhỏ cho thích hợp; ưu tiên quy mô vừa và nhỏ, coi trọng hiệu quả sản xuất kinh doanh và hiệu quả kinh tế xã hội.

<B style="mso-bidi-font-weight: normal">Câu 4: Phương hướng phát triển CMKHCN ở Việt nam hiện nay?[/b]
+ Phương hướng chung: Phát huy lợi thế của đất nước, tận dụng mọi khả năng để đạt được trình độ công nghệ tiên tiến, đặc biệt là công nghệ thông tin và công nghệ sinh học, tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn, ở mức cao hơn và phổ biến những thành tựu mới về khoa học công nghệ
+ Cụ thể:
- Đối với khoa học xã hội: Tiếp tục góp phần làm sáng r những nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, giải đáp những vấn đề mới của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bước đi công nghiệp hoá, hiện đại hoáThưòng xuyên tổng kếtthực tiễn để phát triển lý luận, dự báo tình hình và xu thế phát triển của thế giới, khu vực và trong nước, cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước
- Đối với khoa học tự nhiên: Tập trung nghiên cứu cơ bản định hướng ứng dụng, đặc biệt các lĩnh vực Việt <st1lace><st1:country-region>Nam</st1:country-region></st1lace> có nhu cầu và thế mạnh. Đẩy mạnh có chọn lọc việc nhập công nghệ , mua sáng chế kết hợp công nghệ nội sinh để nhanh chóng đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ của các ngành có lợi thế cạnh tranh, có tỷ trọng lớn trong GDP, các ngành công nghiệp bổ trợ và tạo nhiều việc làm cho xã hội, phát triển công nghệ cao, nhất là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học và công nghệ vật liệu mới. Phát triển hệ thống thông tin quốc gia về nhân lực và công nghệ
- Đổi mới cơ chế quản lý khoa học công nghệ theo hướng nhà nước đầu tư vào các chương trình nghiên cứu quốc giađạt trình độ khu vực và thế giới, xây dựng tiềm lực khoa học công nghệ của một số lĩnh vực trọng điểm. Đa dạng hoá các nguồn lực đầu tư cho khoa học công nghệ, huy động các thành phần kinh tế tham gia các hoạt động khoa học công nghệ. Đẩy mạnh hội nhập quốc tế trong lĩnh vực khoa học công nghệ
- Nhà nước khuyến khích các hoạt động sáng tạo, hoàn thiện và ứng dụng khoa học công nghệ mới thông qua các chính sách hỗ trợ phát triển công nhận và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
- Trọng dụng nhân tài, các nhà khoa học đầu ngành, có chính sách thu hút các nhà khoa học, công nghệ giỏi ở trong nước và nứoc ngoài

<B style="mso-bidi-font-weight: normal">Câu 5:[/b] Về các chức năng của kinh tế chính trị (chức năng nhận thức, tư tưởng và thực tiễn)
<I style="mso-bidi-font-style: normal">* Chức năng nhận thức[/i]
Kinh tế chính trị Mác-Lênin nghiên cứu và giải thích các quá trình và hiện tượng trong đời sống kinh tế xã hội nhằm phát hiện bản chất, quy luật chi phối sự vận động của các quá trình, hiện tượng kinh tế khách quan giúp con người vận dụng vào các hoạt động kinh tế để đạt hiệu quả kinh tế cao trên cơ sở phân tích quá trình, hiện tượng,dự báo, <I style="mso-bidi-font-style: normal">* Chức năng tư tưởng[/i]
Trong xã hội có giai cấp, các tư tưởng kinh tế phải phục vụ mục đích của giai cấp nhất định. Thực tế, chưa bao giờ có tư tưởng kinh tế phi giai cấp, mọi học thuyết kinh tế đều nhằm phê phán hay biện hộ cho một chế độ xã hội nhất định.
Kinh tế chính trị Mác-Lênin góp phần xây dựng thế giới quan cách mạng, niềm tin vào cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân, phê phán chủ nghĩa tư bản là vũ khí tư tương của giai câp công nhân trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản, chủ nghĩa tư bản và xây dựng xã hội mới.
<I style="mso-bidi-font-style: normal">* Chức năng thực tiễn[/i]
Nhận thức để cải tạo thế giới, phục vụ cho thực tiễn, nâng cao hoạt động thực tiẽn (mọi môn khoa học đều có chức năng này). Kinh tế chính trị không chỉ dừng lại ở tiếp cận các sự kiện mà phải thâm nhập vào bản thân đời sống kinh tế xã hội, chỉ ra các phương pháp vận dụng lý thuyết kinh tế vào đời sống thực tế.
<I style="mso-bidi-font-style: normal">* Chức năng phương pháp luận[/i]
Kinh tế chính trị Mác-Lênin đã hình thành là nền táng lý luận, cơ sở phương pháp luận cho tổng thể các môn khoa học kinh tế khác và các ngành chức năng như: lao động, tài chính, thống kê,

<B style="mso-bidi-font-weight: normal">Câu 6:[/b] Phương pháp trừu tượng hóa khoa học và ví dụ minh họa?
<B style="mso-bidi-font-weight: normal"><I style="mso-bidi-font-style: normal">Khái niệm[/i][/b]: trừu tượng hoá khoa học là sự gạt bỏ khỏi đối tượng nghiên cứu những cái ngẫu nhiên, tạm thời, cá biệt hoặc tạm gác lại những nhân tố nào đó để tách ra những cái bền vững, ổn định, điển hình, nhờ đó mà nắm được bản chất của sự vật hiện tượng (đối tượng) và dần dần khái quát thành phạm trù, quy luật biểu hiện bản chất ấy.
<I style="mso-bidi-font-style: normal">Các điều kiện đảm bảo trừu tượng hoá khoa học:[/i]
Phải chú ý tới tổng thể, không phải chú ý tới các sự kiện riêng biệt bởi vì đời sống kinh tế xã hội rất phong phú đa dạng, phức tạp và nhiều mâu thuẫn. Nếu từ một sự vật hiện tượng riêng lẻ có thể dẫn đến những kết luận trái ngược nhau. Cần biết vạch ra cái điển hình từ tổng thể các hiện tượng.
Trừu tượng hoá phải đảm bảo làm bộc lộ r bản chất mà không mất đi nội dung hiện thực của các quan hệ được nghiên cứu. Tức là cần loại bỏ, gạt bớt cái gì và không được loại bỏ cái gì?
Hoàn thiện quá trình đi từ cụ thể đến trừu tượng và ngược lại. Thống nhất giữa cái chung- cái riêng và cái đơn nhất.
Đảm bảo nguyên tắc thống nhất giữa lôgic và lịch sử, tiêu chuẩn cao nhất để đánh giá là thực tiễn xã hội.
<I style="mso-bidi-font-style: normal">Phương pháp này là phương pháp đặc thù của kinh tế chính trị. [/i]
Theo Mác: Phân tích những hình thái kinh tế người ta không thể dùng kính hiển vi hay những chất phản ứng hoá học được. Sức trừu tượng hoá phải thay thế cho cả hai cái đó.
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">Ví dụ:[/b]
Khi nghiên cứu chủ nghĩa tư bản có thể bỏ qua sản xuất hàng hoá nhỏ còn tồn tại bởi vì cái phổ biến, đặc trưng cho chủ nghĩa tư bản là nền sản xuất hàng hoá lớn.
Mặc dù tư bản thương nghiệp có trước nhưng Mác đã bắt đầu từ tư bản công nghiệp chứ không phải từ tư bản thương nghiệp.
Khi nghiên cứu về tái sản xuất tư bản xã hội, Mác đã đưa ra một loạt giả định như: xã hội chỉ có hai giai cấp, hàng hoá luôn được mua bán đúng giá trị, giá trị hàng hoá không thay đổi, tỷ suất giá trị thặng dư không thay đổi, cấu tạo hữu cơ tư bản (c/v) không đổi, không xét đến ngoại thương. Trong thực tế xã hội rất phức tạp song việc giả định loại một số hiện tượng, quá trình ra khỏi điều kiện tái sản xuất không làm ảnh hưởng đến việc rút ra bản chất của tái sản xuất tư bản xã hội, còn nếu đưa vào chỉ làm phức tạp thêm trong việc nghiên cứu.
<I style="mso-bidi-font-style: normal">Sự trừu tượng hoá giúp cho bản chất bộc lộ r hơn, dễ thấy hơn.[/i]

<B style="mso-bidi-font-weight: normal">Câu 7: Cô giáo cho em hỏi, tái sản xuất xã hội là bao trùm công việc tái sản xuất ở công ty phải không? Vậy có thể áp dụng các biện pháp của tái sản xuất xã hội vào trong tái sản xuất của công ty không?[/b]

+ Trước tiên em phải tìm hiểu cho đúng bản chất của tái sản xuất, và tái sản xuất xã hội là gì?
+ Tái sản xuất là quá trình sản xuất được lặp đi lặp lại và phục hồi không ngừng
+ Và nếu căn cứ theo phạm vi có thể chia tái sản xuất thành tái sản xuất cá biệt và tái sản xuất xã hội
+ Tái sản xuất diễn ra trong từng đơn vị kinh tế, từng xí nghiệp gọi là tái sản xuất cá biệt
+ Tổng thể của tái sản xuất cá biệt trong mối liên hệ hữu cơ với nhau được gọi là tái sản xuất xã hội
+ Như vậy tái sản xuất xã hội bao trùm công việc của tái sản xuất của một công ty
+ Tái sản xuất xã hội là quá trình vận động tổng thể của bốn khâu: sản xuất phân phối trao đổi tiêu dùng, trong khi tái sản xuất trong một công ty chỉ là quá trình sản xuất được lặp đi lặp lại và phục hồi không ngừng, có nghĩa là tái sản xuất của một công ty chỉ là quá trình vận động của một khâu sản xuất trong tổng thể bốn khâu đó mà thôi cho nên không thể áp dụng biện pháp của tái sản xuất xã hội vào tái sản xuất của một công ty được

<B style="mso-bidi-font-weight: normal">Câu 8[/b]: <B style="mso-bidi-font-weight: normal">Việt [/b]<st1lace><st1:country-region><B style="mso-bidi-font-weight: normal">Nam[/b]</st1:country-region></st1lace><B style="mso-bidi-font-weight: normal"> tham gia vào tổ chức WTO có được coi là một biện pháp để tái sản xuất xã hội không? Nếu là đúng, cô giáo phân tích thêm về vai trò của việc gia nhập WTO và tái sản xuất xã hội?[/b]
* Vấn đề Việt <st1:country-region><st1lace>Nam</st1lace></st1:country-region> tham gia vào WTO không được coi là một biện pháp để tái sản xuất xã hội
* Vai trò của việc gia nhập WTO đ ối v ới sự phát triển kinh tế của Việt <st1lace><st1:country-region>Nam</st1:country-region></st1lace>:
Vấn đề Việt <st1:country-region>Nam</st1:country-region> gia nhập vào WTO là một quy luật mang tính khách quan phù hợp với xu thế quốc tế hoá và toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới, nó mang lại những thời cơ cho Việt <st1:country-region><st1lace>Nam</st1lace></st1:country-region>:<B style="mso-bidi-font-weight: normal"> [/b]
Những thời cơ:
- Mở rộng cơ hội kinh doanh và thâm nhập thị trường.
- Tăng thu hút vốn đầu tư, và chuyển giao KHCN cũng như kinh nghiệm quản lý từ các nước.
- Có cơ hội nâng cao được vị thế và tạo ra thế đứng vững chắc hơn cho Việt nam trong quan hệ quốc tế.
Những thách thức:
- Vị thế của Việt nam còn thấp kém hơn rất nhiều so với các nước trên thế giói và khu vực:
<B style="mso-bidi-font-weight: normal"><I style="mso-bidi-font-style: normal">[/i][/b]- Những thách thức trong việt tuân thủ các nguyên tắc và luật chơitrên thị trường thế giới
<B style="mso-bidi-font-weight: normal"><I style="mso-bidi-font-style: normal">[/i][/b]- Sức ép của các cuộc cạnh tranh quốc tế.
- Việt nam và các nước đang phát triển luôn đứng trước sức ép của sự bành trướng về kinh tế của các công ty xuyên quốc gia.

<B style="mso-bidi-font-weight: normal">Câu 9:[/b] Trong điều kiện tồn tại cả hàng hóa hữu hình và hàng hóa vô hình thì xác định lượng của hàng hóa như thế nào?
+ Hàng hoá tồn tại ở hai dạng: hàng hoá hữu hình (vật thể), hàng hoá vô hình (phi vật thể)
+ Khi xác định lượng giá trị của hàng hoá kể cả hữu hình và vô hình đều được xác định là số lượng lao động tiêu phí để sản xuất ra hàng hoá (Chi phí xã hội để sản xuất ra hàng hóa đó chứ không phải chi phí cá biệt ).
Đơn vị đo: Là thời gian lao động, nhưng không phải thời gian lao động bất kỳ. Trong nền sản xuất hàng hóa, có nhiều người cùng sản xuất một loại hàng hoá, nhưng điều kiện sản xuất, trình độ tay nghề, năng suất lao động khác nhau, do đó thời gian lao động để sản xuất ra loại hàng hoá đó là khác nhau, tức là có mức hao phí lao động cá biệt khác nhau. Thế nhưng lượng giá trị của hàng hoá không phải là do mức hao phí lao động cá biệt hay thời gian lao động cá biệt quy định mà nó được đo bằng thời gian lao động xã hội cần thiết.
+ Giá trị hàng hoá được xác định = C + V +m
- Trong đó C: giá trị tư liệu sản xuất được chuyển vào sản phẩn phản ánh lao động quá khứ kết tinh (còn được gọi là giá trị cũ)
- Trong đó V: Giá trị sức lao động
- Trong đó m: là giá trị thặng dư
- V+ m là hao phí lao động sống hiện tại ( giá trị mới )

<B style="mso-bidi-font-weight: normal">Câu 10:[/b] Bản chất tiền tệ thể hiện trong hình thức thanh toán bằng chuyển khoản như thế nào?
+ Tiền tệ là hàng hoá đặc biệt được tách ra làm vật ngang giá chung cho tất cả các hàng hoá, là hình thái cao nhất của giá trị hàng hoá, là sự thể hiện chung của giá trị, nó biểu hiện trực tiếp của giá trị hàng hoá, biểu hiện mối quan hệ sản xuất giữa những người sản xuất hàng hoá.
+ Khi thực hiện hình thức chuyển thanh toán chuyển khoản thì bản chất của tiền tệ không thay đổi, nó vẫn đóng vai trò là phương tiện thanh toán nhưng hình thức thì thanh toán thực hiện trực tiếp mà thông qua tài khoản ở ngân hàng

<B style="mso-bidi-font-weight: normal">Câu 11:[/b] (STT 11+14) Phân tích tác dụng của quy luật giá trị đối với nền sản xuất hàng hóa
Trong nền sản xuất hàng hoá, quy luật giá trị có 3 tác động sau:
<I style="mso-bidi-font-style: normal"> * Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá: [/i]
Điều tiết sản xuất: Tức là nó điều hòa, phân bố các yếu tố sản xuất giữa các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân. Làm thay đổi quy mô sản xuất (mở rộng hay thu hẹp)
+ Tại sao quy luật giá trị điều tiết được sản xuất? Nội dung yêu cầu của quy luật giá trị là sản xuất và trao đổi phải căn cứ vào hao phí lao động xã hội cần thiết, trong sản xuất chi phí cá biệt phải bằng hoặc nhỏ hơn chi phí xã hội, trong trao đổi phải trao đổi ngang giá có như vậy mới tồn tại và phát triển. Nhưng trong thực tế vẫn xẩy ra tình trạng giá phải bán thấp hơn hoặc bán cao hơn giá trị. Yếu tố đó tác động một cách tự phát đến các nhà sản suất làm cho họ thu hẹp hoặc mở rộng sản xuất. Đó là qui luật giá trị đã điều tiết sản xuất.
+ Qui luật giá trị điều tiết sản xuất như thế nào ?
- Nếu một ngành nào đó khi cung nhỏ hơn cầu giá cả cao hơn giá trị, hàng hoá bán chạy và lãi cao, những người sản xuất ngành đó sẽ mở rộng quy mô sản xuất, đầu tư thêm tư liệu sản xuất và sức lao động. Mặc khác, những người sản xuất ngành khác cũng có thể chuyển sang ngành này, do đó, tư liệu sản xuất và sức lao động ở ngành này tăng lên, quy mô sản xuất càng được mở rộng.
- Ngược lại nếu như ngành nào đó có giá cả thấp hơn giá trị (cung lớn hơn cầu) sẽ bị lỗ vốn. Tình hình đó buộc người sản xuất phải thu hẹp việc sản xuất ngành này hoặc chuyển ngành khác, làm cho tư liệu sản xuất và sức lao động ở ngành này giảm đi, ở ngành khác tăng lên.
- Nếu như mặt hàng nào đó giá cả bằng giá trị thì người sản xuất có thể tiếp tục sản xuất mặt hàng này.
Như vậy, quy luật giá trị đã tự động điều tiết tỷ lệ phân chia tư liệu sản xuất và sức lao động vào các ngành sản xuất khác nhau, đáp ứng nhu cầu của xã hội.
Điều tiết lưu thông hàng hoá:
Tại sao qui luật giá trị điều tiết lưu thông? Yêu cầu của qui luật là phải trao đổi ngang giá, nhưng thực tế do tác động của qui luật cung cầu nên có thể nơi này bán cao hơn giá trị nhưng nơi khác lại phải bán thấp hơn giá trị. Nội dung của qui luật của quy luật giá trị thể hiện ở chỗ nó thu hút hàng hoá từ nơi có giá cả thấp đến nơi có giá cả cao, và do đó, góp phần làm cho hàng hoá giữa các vùng có sự cân bằng nhất định.
<I style="mso-bidi-font-style: normal">* Kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm.[/i]
Trong nền sản xuất hàng hóa mỗi nhà sản xuất có chi phí cá biệt riêng (do điều kiện sản xuất khác nhau), nhưng trên thị trường thì các hàng hoá đều phải được trao đổi theo mức hao phí lao động xã hội cần thiết. Vậy người sản xuất hàng hoá nào mà có mức hao phí lao động thấp hơn mực hao phí lao động xã hội cần thiết, thì sẽ thu được nhiều lãi chi phí càng thấp lãi.càng lớn. Điều đó kích thích những người sản xuất hàng hoá cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, cải tiến tổ chức quản lý, thực hiện tiết kiệm nhằm tăng năng suất lao động, hạ chi phí sản xuất.
Sự cạnh tranh quyết liệt, người sản xuất nào cũng làm như vậy nên cuối cùng sẽ dẫn đến toàn bộ năng suất lao động xã hội không ngừng tăng lên, chi phí sản xuất xã hội không ngừng giảm xuống.
<I style="mso-bidi-font-style: normal"> * Phân hoá những người sản xuất hàng hoá thành giàu, nghèo.[/i]
Những người sản xuất hàng hoá nào có mức hao phí lao động cá biệt thấp hơn mức hao phí lao động xã hội cần thiết, sẽ thu được nhiều lãi, giàu lên, mở rộng sản xuất kinh doanh, thậm chí thuê lao động trở thành ông chủ. Ngược lại, những người sản xuất hàng hoá nào có mức hao phí lao động cá biệt lớn mức hoa phí lao động xã hội cần thiết, sẽ rơi vào tình trạng thua lỗ, nghèo đi, thậm chí có thể phá sản, trở thành lao động làm thuế.
Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân làm xuất hiện quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, cơ sở ra đời của chủ nghĩa tư bản.
Quy luật giá trị làm phân hóa những người sản xuất hàng hóa, đây là sự lựa chọn tự nhiên, nó đào thải những yếu kém, kích thích những nhân tố tích cực. Nếu xét ở góc độ là động lực để thúc đẩy phát triển sẩn xuất thì nó làm phân hóa những người sản xuất hàng hóa, tập trung vốn, nhanh chóng chuyển nền sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn hiện đại.
Xét dưới góc độ xã hội, sự phân hóa giầu nghèo của sản xuất hàng hóa có tác động tiêu cực. Do đó, nhà nước cần có những biện pháp để phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của nó, đặc biệt trong điều kiện phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.

<B style="mso-bidi-font-weight: normal">Câu 12:[/b] (STT 15): Mâu thuẫn của công thức chung của tư bản là gì?
Nhìn bề ngoài, hình như lưu thông tạo ra giá trị và giá trị thặng dư.Như vậy: Lưu thông có tạo ra giá trị và làm tăng thêm giá trị hay không?
Ta hãy xem xét các trường hợp trao đổi cụ thể sau để thấy r mâu thuẫn trong công thức chung của tư bản
-Nếu mua- bán ngang giá, hàng hoá có thể bán cao hơn hoặc thấp hơn giá trị. Nhưng, trong nền kinh tế hàng hoá, mỗi người sản xuất đều vừa là người bán, vừa là người mua. Cái lợi mà họ thu được khi bán sẽ bù lại cái thiệt khi mua hoặc ngược lại. Trong trường hợp có những kẻ chuyên mua rẻ, bán đắt thì tổng giá trị toàn xã hội cũng không hề tăng lên, bởi vì số giá trị mà những người này thu được chẳng qua chỉ là sự ăn chặn, đánh cắp số giá trị của người khác mà thôi.
-Nếu xét ngoài lưu thông tức là tiền để trong két sắt, hàng hoá để trong kho thì cũng không sinh ra được giá trị thặng dư.
<I style="mso-bidi-font-style: normal">Như vậy là giá trị thặng dư vừa sinh ra trong quá trình lưu thông, lại vừa không thể sinh ra trong quá trình lưu thông, vừa sinh ra ngoài lưu thông, lại vừa không sinh ra ngoài lưu thông. <B style="mso-bidi-font-weight: normal">Đó chính là mâu thuẫn của công thức chung của tư bản[/b]. C. Mác là người đầu tiên phân tích và giải quyết mâu thuẫn đó bằng lý luận về hàng hoá sức lao động.[/i]

<B style="mso-bidi-font-weight: normal">Câu 13[/b] ( 12+16): Phân tích r hơn về hàng hóa sức lao động?
+ Trước hết, phải nắm vững bản chất của sức lao động là toàn bộ những năng lực (thể lực và trí lực) tồn tại trong một con người và được người đó sử dụng vào sản xuất. Sức lao động là cái có trước, còn lao động chính là quá trình vận dụng sức lao động.
+ Sức lao động là yếu tố quan trọng của sản xuất, nhưng sức lao động chỉ trở thành hàng hoá khi có hai điều kiện sau đây:
-Thứ nhất, người lao động phải là người được tự do về thân thế của mình, phải có khả năng chi phối sức lao động ấy và chỉ bán lao động đó trong một thời gian nhất định.
-Thứ hai, người lao động không còn có tư liệu sản xuất cần thiết để tự mình thực hiện lao động và cũng không có của cải gì khác, muốn sống chỉ còn cách bán sức lao động cho người khác sử dụng.
+ Sức lao động trở thành hàng hoá đánh dấu một bước ngoặt cách mạng trong phương thức kết hợp người lao động với tư liệu sản xuất, là một bước tiến lịch sử so với chế độ nô lệ và phong kiến. Sự bình đẳng về hình thức giữa người sở hữu sức lao động với người sở hữu tư bản che đậy bản chất của chủ nghĩa tư bản- chế độ được xây dựng trên sự đối kháng lợi ích kinh tế giữa tư bản và lao động.
+ Hàng hoá sức lao động cũng có hai thuộc tính, giống như hàng hoá khác, đó là: giá trị và giá trị sử dụng.
-Giá trị của hàng hoá sức lao động cũng do số lượng lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra nó quyết định. Giá trị sức lao động được quy về giá trị của toàn bộ các tư liệu sinh hoạt cần thiết để sản xuất và tái sản xuất sức lao động, để duy trì đời sống của công nhân làm thuê và gia đình họ.
<I style="mso-bidi-font-style: normal">Tuy nhiên,giá trị hàng hoá sức lao động khác với hàng hoá thông thường ở chỗ nó bao hàm cả yếu tố tinh thần và yếu tố lịch sử, phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử của từng nước, từng thời kỳ, phụ thuộc vào trình độ văn minh đã đạt được, vào điều kiện lịch sử hình thành giai cấp công nhân và cả điều kiện địa lý, khí hậu.[/i]
-Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động thể hiện ở quá trình tiêu dùng sức lao động, tức là quá trình lao động để sản xuất ra một hàng hoá, một dịch vụ nào đó. Trong quá trình lao động, sức lao động tạo ra một lượng giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân nó, phần giá trị dôi ra so với giá trị sức lao động là giá trị thặng dư. <B style="mso-bidi-font-weight: normal"><I style="mso-bidi-font-style: normal">Đó chính là đặc điểm riêng có của giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động. Đặc điểm này là chìa khoá để giải quyết mâu thuẫn trong công thức chung của tư bản đã trình bày ở trên.[/i][/b]
Từ hai thuộc tính trên đây,ngưòi ta nói rằng: Sức lao động là một hàng hoá đặc biệt khác với các hàng hoá thông thường.


<B style="mso-bidi-font-weight: normal">Câu 14:[/b] ( STT 13 +17) Giá trị thặng dư là gì? Ví dụ?
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">Ví dụ:[/b]
Lấy một ví dụ về việc sản xuất sợi của nhà tư bản ,để làm r quá trình tạo ra giá trị và giá trị thặng dư
Giả sử, để chế tạo ra 1 kg sợi, nhà tư bản phải ứng ra số tiền 20.000 đơn vị tiền tệ mua 1 kg bông, 3.000 đơn vị tiền tệ cho hao phí máy móc và 5.000 đơn vị tiền tệ mua sức lao động của công nhân điều khiển máy móc trong 1 ngày (10 giờ). Giả định việc mua này đúng giá trị. Mỗi giờ lao động sống của công nhân tạo ra giá trị mới kết tinh vào sản phẩm là 1.000 đơn vị tiền tệ.
Trong quá trình sản xuất, bằng lao động cụ thể, công nhân sử dụng máy móc để chuyển 1kg bông thành 1 kg sợi, theo đó giá trị của bông và hao mòn máy móc cũng được chuyển vào sợi; <I style="mso-bidi-font-style: normal">bằng lao động trừu tượng, mỗi giờ công nhân tạo thêm một lượng giá trị mới 1.000 đơn vị[/i] tiền tệ<I style="mso-bidi-font-style: normal">.[/i] Giả định chỉ trong 5 giờ công nhân đã kéo xong 1kg bông thành 1 kg sợi, thì giá trị 1 kg sợi được tính theo các khoản như sau:
+ Giá trị 1kg bông chuyển vào = 20.000 đơn vị tiền tệ
+ Hao mòn máy móc = 3.000 đơn vị tiền tệ
+ Giá trị mới tạo ra (trong 5 giờ lao động, phần này vừa đủ bù đắp giá trị sức lao động) = 5.000 đơn vị tiền tệ
<I style="mso-bidi-font-style: normal">Tổng cộng [/i]= 28.000 đơn vị tiền tệ
<I style="mso-bidi-font-style: normal">[/i]Nếu quá trình lao động ngừng ở đây thì nhà tư bản chưa có được giá trị thặng dư.
Nhưng nhà tư bản đã mua sức lao động trong 1 ngày với 10 giờ, chứ không phải là 5 giờ. Trong 5 giờ lao động tiếp, nhà tư bản chi thêm 20.000đơn vị tiền tệ để mua 1 kg bông và 3000 đơn vị tiền tệ hao mòn máy móc và với 5giờ lao động sau, người công nhân vẫn tạo ra 5.000 đơn vị giá trị mới và có thêm 1kg sợi với giá trị 28.000 đơn vị tiền tệ. Tổng số tiền nhà tư bản chi ra có được 2kg sợi sẽ là:
+ Tiền mua bông : 20.000 x 2 = 40.000 đơn vị tiền tệ
+ Hao mòn máy móc (máy chạy 10 tiếng):
3000 x2 = 6.000 đơn vị tiền tệ
+ Tiền lương công nhân sản xuất cả ngày (trong 10 giờ, tính theo đúng giá trị sức lao động) = 5.000 đơn vị tiền tệ
<I style="mso-bidi-font-style: normal"> Tổng cộng [/i]= 51.000 đơn vị tiền tệ
-Tổng giá trị của 2 kg sợi là: 2 kg x 28.000 = 56.000 đơn vị tiền tệ và như vậy, lượng giá trị thặng dư thu được là: 56.000 51.000= 5.000 (đơn vị tiền tệ).Lượng gía trị này chính bằng lượng giá trị mới do công nhân tạo ra trong 5 giờ lao động sau..
Từ thí dụ trên đây ta kết luận<B style="mso-bidi-font-weight: normal">: <I style="mso-bidi-font-style: normal">giá trị thặng dư là phần giá trị mới do lao động của người công nhân tạo ra ngoài giá trị sức lao động, là kết quả lao động không công của công nhân cho nhà tư bản.[/i][/b]

<B style="mso-bidi-font-weight: normal">Câu 15:[/b] (STT 18) Bản chất tiền công trong CNTB
Tiền công là biều hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá sức lao động, là giá cả của hàng hoá sức lao động. Tuy vậy, dễ có sự lầm tưởng, trong xã hội tư bản, tiền công là giá cả của lao động. Bởi vì:
- Thứ nhất, nhà tư bản trả tiền công cho công nhân sau khi công nhân đã lao động để sản xuất ra hàng hoá
-Thứ hai, tiền công được trả theo thời gian lao động (Giờ, ngày, tuần, tháng..) hoặc theo số lượng hàng hoá đã sản xuất được.
Cái mà nhà tư bản mua của công nhân không phải là lao động mà là sức lao động. Tiền công không phải là giá trị hay giá cả của lao động, mà chỉ là giá trị hay giá cá của hàng hoá sức lao động
Cơ sở khoa học để nghiên cứu vấn đề tiền công: là phân biệt sự khác nhau giữa hai khái niệm Sức lao động và Lao động.
Ý nghĩa nghiên cứu vấn đề này: Nhằm bổ sung và hoàn thiện lý luận giá trị thặng dư, phê phán luận điệu kẻ có của, người có công.

<B style="mso-bidi-font-weight: normal">Câu 16:[/b] ( STT 19) Thực chất của tích lũy tư bản?
- Sự chuyển hoá một phần giá trị thặng dư trở lại thành tư bản gọi là tích luỹ tư bản. ( tư bản hoá một phần giá trị thặng dư ), thực chất của tích luỹ tư bản là tái sản xuất mở rộng tư bản chủ nghĩa, với quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa thống trị thì tích luỹ tư bản chính là việc mở rộng quy mô bóc lột cho tư bản
- Tư bản do quá trình tích luỹ mà có gọi là tư bản tích luỹ hay tư bản phụ thêm.
Ví dụ: Một nhà tư bản thu được số giá trị thặng dư là 100 đơn vị tiền tệ, anh ta tiêu dùng 50 đơn vị còn 50 đơn vị dùng để đầu tư thêm mở rộng sản xuất, 50 đơn vị tiền tệ đó đã trở thành tư bản, khi đó đã có sự tích luỹ và 50 đơn vị tiền tệ đầu tư thêm gọi là tư bản tích luỹ.
-Như vậy nguồn gốc của tích luỹ tư bản là giá trị thặng dư- là lao động của công nhân bị nhà tư bản chiếm không

<B style="mso-bidi-font-weight: normal">Câu 17:[/b] ( STT 20) Cấu tạo hữu cơ tư bản là gì? Tại sao tích lũy tư bản lại làm cho cấu tạo hữu cơ tư bản ngày càng tăng?
Tư bản tồn tại dưới dạng vật chất và giá trị. Cấu tạo của tư bản gồm có cấu tạo kỹ thuật và cấu tạo giá trị.
+ Cấu tạo kỹ thuật của tư bản là tỷ lệ giữa khối lượng tư liệu sản xuất với số lượng lao động cần thiết để sử dụng các tư liệu sản xuất đó. Nó biểu hiện dưới các hình thức của số lượng máy móc, nguyên liệu, năng lượng do một công nhân sử dụng trong một thời gian nào đó. Cấu tạo kỹ thuật phản ánh trình độ phát triển của lực lượng sản xuất xã hội.
+ Cấu tạo giá trị của tư bản (c:v) là tỷ lệ theo đó tư bản phân thành tư bản bất biến (hay giá trị của tư liệu sản xuất ) và tư bản khả biến (hay giá trị của sức lao động) cần thiết để tiến hành sản xuất.
Cấu tạo kỹ thuật thay đổi sẽ làm cho cấu tạo giá trị thay đổi. C. Mác đã dùng phạm trù cấu tạo hữu cơ của tư bản để chỉ mối quan hệ đó. Cấu tạo hữu cơ của tư bản là cấu tạo giá trị của tư bản, do cấu tạo kỹ thuật quyết định và phản ánh sự thay đổi của cấu tạo kỹ thuật của tư bản.
- Do tích luỹ tư bản từ đó làm cho khả năng ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại ngày càng tăng, do tác động thường xuyên của tiến bộ khoa học và công nghệ, cấu tạo hữu cơ của tư bản cũng không ngừng biến đổi theo hướng ngày càng tăng lên. Điều đó biểu hiện ở chỗ: bộ phận tư bản bất biến tăng nhanh hơn bộ phận tư bản khả biến, tư bản bất biến tăng tuyệt đối và tăng tương đối còn tư bản khả biến thì có thể tăng tuyệt đối, nhưng lại giảm xuống một cách tương đối.

<B style="mso-bidi-font-weight: normal">Câu 18:[/b] (STT 21) Mối quan hệ giữa tích lũy tư bản với tích tụ tư bản và tập trung tư bản?
+ Tích luỹ tư bản xét về mặt làm tăng quy mô của tư bản cá biệt là tích tụ tư bản
+ Tích tụ và tập trung tư bản quan hệ mật thiết với nhau. Tích tụ tư bản làm tăng thêm quy mô và sức cạnh tranh của tư bản cá biệt, do đó cạnh tranh găy gắt hơn dẫn đến tập trung nhanh hơn. Ngược lại tập trung tư bản tạo điều kiện thuận lợi để tăng cường bóc lột giá trị thặng dư, nên đẩy nhanh tích tụ tư bản. Ảnh hưởng qua lại nói trên của tích tụ và tập trung tư bản làm cho tích luỹ tư bản ngày càng mạnh
+ Như vậy quá trình tích luỹ tư bản là quá trình tích tụ và tập trung tư bản ngày càng tăng, do đó nền sản xuất tư bản chủ nghĩa trở thành nền sản xuất xã hội hoá cao độ, làm cho mâu thuẫn kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản ngày càng sâu sắc hơn.
__________________
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #13  
Old 09-07-2006
chaunh105qt206's Avatar
chaunh105qt206 chaunh105qt206 is offline
Junior Member
 
Tham gia ngày: Aug 2006
Bài gởi: 15
Thanks: 0
Thanked 4 Times in 3 Posts

Level: 2 [♥ Bé-Yêu ♥♥ Bé-Yêu ♥]
Life: 0 / 40
Magic: 5 / 967
Experience: 62%

Default

<B style="mso-bidi-font-weight: normal">Câu 1: Trình bày quan điểm của mác xít về Kinh tế chính trị học[/b]<B style="mso-bidi-font-weight: normal">
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">Câu 2: Trình bày quan điểm của duy vật lịch sử về đối tượng của kinh tế chính trị Mác Lênin. Sự khác biệt với quan điểm duy tâm về đối tượng kinh tế chính trị mác lê nin[/b]
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">Câu 3: Nói r thêm về các chức năng của kinh tế chính trị[/b]
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">Câu 4: Thế nào là trừu tượng hoá khoa học? Cho ví dụ.[/b]<B style="mso-bidi-font-weight: normal">
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">Câu 5: 1. Tái sản xuất là gì? Phân tích nội dung chủ yếu của tái sản xuất xã hội[/b][/b][/b]
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #14  
Old 09-07-2006
pd_truong's Avatar
pd_truong pd_truong is offline
Senior Member
 
Tham gia ngày: Nov 2005
Nơi Cư Ngụ: Vietnam
Bài gởi: 318
Thanks: 1
Thanked 125 Times in 45 Posts

Level: 16 [♥ Bé-Yêu ♥]
Life: 0 / 391
Magic: 106 / 10104
Experience: 67%

Default

<B style="mso-bidi-font-weight: normal">Câu 1: Trình bày quan điểm của mác xít về Kinh tế chính trị học[/b]
- Kinh tế chính trị học là một môn khoa học xã hội nằm trong khoa học kinh tế.
- Kinh tế chính trị học nghiên cứu về kinh tế để rút ra các kết luận về kinh tế và từ đó rút ra các kết luận về chính trị.
- Các khoa học kinh tế khác cũng nghiên cứu nền kinh tế xã hội nhưng gạt bỏ mặt chính trị, bản chất của các quan hệ kinh tế mà chỉ đi sâu phân tích những biểu hiện kinh tế thuần tuý, tách rời kinh tế khỏi chính trị do đó không nắm được bản chất các hoạt động kinh tế.
- Kinh tế chính trị học là môn khoa học có tính lịch sử.
Theo Enghen: Kinh tế chính trị học theo nghĩa rộng nhất là khoa học về những quy luật chi phối sự sản xuất và sự trao đổi những tư liệu sinh hoạt vật chất trong xã hội loài người
Theo nghĩa hẹp, kinh tế chính trị học nghiên cứu một phương thức sản xuất cụ thể và tìm ra quy luật vận động của riêng nó.
Tóm lại, kinh tế chính trị là môn khoa học xã hội nghiên cứu những cơ sở kinh tế chung của đời sống xã hội tức là các quan hệ kinh tế trong những giai đoạn nhất định của xã hội loài người
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">Câu 2: Trình bày quan điểm của duy vật lịch sử về đối tượng của kinh tế chính trị Mác Lênin. Sự khác biệt với quan điểm duy tâm về đối tượng kinh tế chính trị mác lê nin[/b]
Một là, sản xuất vật chất là cơ sở của đời sống xã hội, do đó muốn tìm bản chất, quy luật của xã hội phải xuất phát từ sản xuất vật chất. Nói cách khác phải nghiên cứu nền sản xuất xã hội.
Hai là, nền sản xuất xã hội nói chung có hai mặt:
- Thứ nhất là lực lượng sản xuất bao gồm các yếu tố của quá trình sản xuất là: tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động. Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, là mặt kỹ thuật sản xuất, sự sản xuất.
- Thứ hai là quan hệ sản xuất bao gồm quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý và quan hệ phân phối. Quan hệ sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa người và người trong quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng, là mặt xã hội của sản xuất.
Theo Lê-nin: Kinh tế chính trị nghiên cứu quan hệ xã hội giữa người với người trong quá trình sản xuất, nghiên cứu chế độ xã hội của sản xuất.
Trong lời tựa viết cho lần xuất bản thứ nhất tác phẩm Tư bản, Mác đã xác định đối tượng nghiên cứu là phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và những quan hệ sản xuất và trao đổi thích ứng với phương thức sản xuất ấy, mục đích cuối cùng của tác phẩm này là tìm ra quy luật vận động kinh tế của xã hội hiện đại.
- <I style="mso-bidi-font-style: normal">Kết luận: [/i]Đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác-Lênin là quan hệ sản xuất, vạch ra bản chất quy luật vận động của quan hệ sản xuất, hay phát hiện ra các quy luật kinh tế, tính quy luật kinh tế và sự tác động của chúng trong nền kinh tế.
Kinh tế chính trị Mác-Lênin nghiên cứu quan hệ sản trong mối quan hệ biện chứng với lực lượng sản xuất. (Lực lượng sản xuất không phải là đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị nhưng vẫn phải nghiên cứu trong chừng mực nhất định để phục vụ cho nghiên cứu quan hệ sản xuất)
Kinh tế chính trị Mác-Lênin nghiên cứu quan hệ sản xuất với ý nghĩa là cơ sở hạ tầng trong mối quan hệ biện chứng với kiến trúc thượng tầng. (Nghiên cứu mối quan hệ kinh tế và chính trị, kinh tế và văn hoá)
Kinh tế chính trị Mác-Lênin nghiên cứu các quan hệ sản xuất không chỉ dừng ở hiện tượng, bên ngoài mà đi sâu vào bản chất, vạch ra quy luật vận động và phát triển của các quan hệ sản xuất hay các quy luật kinh tế
Tóm lại kinh tế chính trị Mác-Lênin nghiên cứu một cách toàn diện, tổng hợp về quan hệ sản xuất, quy luật kinh tế của một hay những hình thái kinh tế xã hội.

<B style="mso-bidi-font-weight: normal">Câu 3: Nói r thêm về các chức năng của kinh tế chính trị[/b]

Về cơ bản các chức năng của kinh tế chính trị đã được trình bày trong sách giáo trình. Tuy nhiên các chức năng cơ bản của kinh tế chính trị được tổng hợp như sau:
<H5 style="MARGIN: 3pt 0cm">1.3.1.1. Chức năng nhận thức</H5>
Kinh tế chính trị Mác-Lênin nghiên cứu và giải thích các quá trình và hiện tượng trong đời sống kinh tế xã hội nhằm phát hiện bản chất, quy luật chi phối sự vận động của các quá trình, hiện tượng kinh tế khách quan giúp con người vận dụng vào các hoạt động kinh tế để đạt hiệu quả kinh tế cao trên cơ sở phân tích quá trình, hiện tượng,dự báo,
<H5 style="MARGIN: 3pt 0cm">1.3.1.2. Chức năng tư tưởng</H5>
Trong xã hội có giai cấp, các tư tưởng kinh tế phải phục vụ mục đích của giai cấp nhất định. Thực tế, chưa bao giờ có tư tưởng kinh tế phi giai cấp, mọi học thuyết kinh tế đều nhằm phê phán hay biện hộ cho một chế độ xã hội nhất định.
Kinh tế chính trị Mác-Lênin góp phần xây dựng thế giới quan cách mạng, niềm tin vào cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân, phê phán chủ nghĩa tư bản là vũ khí tư tưởng của giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản, chủ nghĩa tư bản và xây dựng xã hội mới.
<H5 style="MARGIN: 3pt 0cm">1.3.1.3. Chức năng thực tiễn</H5>
Nhận thức để cải tạo thế giới, phục vụ cho thực tiễn, nâng cao hoạt động thực tiễn (mọi môn khoa học đều có chức năng này). Kinh tế chính trị không chỉ dừng lại ở tiếp cận các sự kiện mà phải thâm nhập vào bản thân đời sống kinh tế xã hội, chỉ ra các phương pháp vận dụng lý thuyết kinh tế vào đời sống thực tế.
<H5 style="MARGIN: 3pt 0cm">1.3.1.4. Chức năng phương pháp luận</H5>
Kinh tế chính trị Mác-Lênin đã hình thành là nền tảng lý luận, cơ sở phương pháp luận cho tổng thể các môn khoa học kinh tế khác và các ngành chức năng như: lao động, tài chính, thống kê,
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">Câu 4: Thế nào là trừu tượng hoá khoa học? Cho ví dụ.[/b]
Khái niệm: trừu tượng hoá khoa học là sự gạt bỏ khỏi đối tượng nghiên cứu những cái ngẫu nhiên, tạm thời, cá biệt hoặc tạm gác lại những nhân tố nào đó để tách ra những cái bền vững, ổn định, điển hình, nhờ đó mà nắm được bản chất của sự vật hiện tượng (đối tượng) và dần dần khái quát thành phạm trù, quy luật biểu hiện bản chất ấy.
Các điều kiện đảm bảo trừu tượng hoá khoa học:
Phải chú ý tới tổng thể, không phải chú ý tới các sự kiện riêng biệt bởi vì đời sống kinh tế xã hội rất phong phú đa dạng, phức tạp và nhiều mâu thuẫn. Nếu từ một sự vật hiện tượng riêng lẻ có thể dẫn đến những kết luận trái ngược nhau. Cần biết vạch ra cái điển hình từ tổng thể các hiện tượng.
Trừu tượng hoá phải đảm bảo làm bộc lộ r bản chất mà không mất đi nội dung hiện thực của các quan hệ được nghiên cứu. Tức là cần loại bỏ, gạt bớt cái gì và không được loại bỏ cái gì?
Hoàn thiện quá trình đi từ cụ thể đến trừu tượng và ngược lại. Thống nhất giữa cái chung- cái riêng và cái đơn nhất.
Đảm bảo nguyên tắc thống nhất giữa lôgic và lịch sử, tiêu chuẩn cao nhất để đánh giá là thực tiễn xã hội.
Phương pháp này là phương pháp đặc thù của kinh tế chính trị.
Theo Mác: Phân tích những hình thái kinh tế người ta không thể dùng kính hiển vi hay những chất phản ứng hoá học được. Sức trừu tượng hoá phải thay thế cho cả hai cái đó.
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">Ví dụ: [/b]
Khi nghiên cứu chủ nghĩa tư bản có thể bỏ qua sản xuất hàng hoá nhỏ còn tồn tại bởi vì cái phổ biến, đặc trưng cho chủ nghĩa tư bản là nền sản xuất hàng hoá lớn.
Mặc dù tư bản thương nghiệp có trước nhưng Mác đã bắt đầu từ tư bản công nghiệp chứ không phải từ tư bản thương nghiệp.
Khi nghiên cứu về tái sản xuất tư bản xã hội, Mác đã đưa ra một loạt giả định như: xã hội chỉ có hai giai cấp, hàng hoá luôn được mua bán đúng giá trị, giá trị hàng hoá không thay đổi, tỷ suất giá trị thặng dư không thay đổi, cấu tạo hữu cơ tư bản (c/v) không đổi, không xét đến ngoại thương. Trong thực tế xã hội rất phức tạp song việc giả định loại một số hiện tượng, quá trình ra khỏi điều kiện tái sản xuất không làm ảnh hưởng đến việc rút ra bản chất của tái sản xuất tư bản xã hội, còn nếu đưa vào chỉ làm phức tạp thêm trong việc nghiên cứu.
Sự trừu tượng hoá giúp cho bản chất bộc lộ r hơn, dễ thấy hơn.
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">Câu 5: 1. Tái sản xuất là gì? Phân tích nội dung chủ yếu của tái sản xuất xã hội[/b]
Tái sản xuất là quá trình sản xuất được lặp đi lặp lại thường xuyên và phục hồi không ngừng.
- Tái sản xuất là tất yếu vì xã hội không ngừng tiêu dùng, do đó không thể ngừng sản xuất
- Có nhiều kiểu phân loại tái sản xuất theo nhiều góc độ khác nhau:
<I style="mso-bidi-font-style: normal">Nếu xem xét tái sản xuất theo phạm vi[/i] có tái sản xuất cá biệt và tái sản xuất xã hội. Tái sản xuất diễn ra trong từng doanh nghiệp gọi là tái sản xuất cá biệt..Tổng thể những tái sản xuất cá biệt trong mối liên hệ với nhau gọi là tái sản xuất xã hội.
<I style="mso-bidi-font-style: normal">Xét về quy mô của tái sản xuất[/i], người ta chia nó thành hai mức độ là tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng.
Tái sản xuất gồm có 02 loại: Tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng
Nội dung chủ yếu của Tái sản xuất như sau:
Bất cứ xã hội nào, quá trình tái sản xuất cũng bao gồm những nội dung chủ yếu là tái sản xuất của cải vật chất, tái sản xuất sức lao động, tái sản xuất quan hệ sản xuất và tái sản xuất môi trường sinh thái.
<H5 style="MARGIN: 3pt 0cm">2.1.3.1. Tái sản xuất của cải vật chất.</H5>
Của cải vật chất (bao gồm tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng) sẽ bị tiêu dùng trong quá trình sản xuất và sinh hoạt xã hội do đó cần phải tái sản xuất ra chúng... Vậy tái sản xuất của cải vật chất là tái sản xuất ra tư liệu sản xuất và tái sản xuất ra tư liệu tiêu dùng.
Trong tái sản xuất của cải vật chất thì tái sản xuất ra tư liệu sản xuất có ý nghĩa quyết định đối với tái sản xuất ra tư liệu tiêu dùng, nhưng tái sản xuất ra tư liệu tiêu dùng lại có ý nghĩa quyết định để tái sản xuất sức lao động của con người đó là yếu tố hàng đầu của lực lượng sản xuất của xã hội.
Kết quả của tái sản xuất của cải vất chất là tổng sản phẩm xã hội..
Tổng sản phẩm xã hội là toàn bộ sản phẩm do lao động trong các ngành sản xuất vật chất tạo ra trong một thời kỳ nhất định, thường được tính là một năm (đó là khi ngành phi sản xuất vật chất chưa phát triển).
Tổng sản phẩm xã hội được xét cả về mặt hiện vật và giá trị.
+ Về hiện vật, nó bao gồm toàn bộ tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng.
+ Về giá trị, nó bao gồm giá trị của bộ phận tư liệu sản xuất bị tiêu dùng trong sản xuất và bộ phận giá trị mới, gồm có giá trị của toàn bộ sức lao động xã hội, ngang với tổng sổ tiền công trả cho người lao động sản xuất trực tiếp và giá trị của sản phẩm thặng dư do lao động thặng dự tạo ra.
Hiện nay, do các ngành sản xuất phi vật thể (dịch vụ) phát triển và ở nhiều nước nó tạo ra nguồn thu nhập ngày càng lớn so với các ngành sản xuất khác, Liên hợp quốc dùng hai chỉ tiêu là: tổng sản phẩm quốc dân (GNP=Gross National Product) và tổng sản phẩm quốc nội (GDP= Gross Domestic Product) để tính tổng sản phẩm xã hội ( GDP, GNP sẽ được nghiên cứu kỹ ở phần tăng trưởng kinh tế)
Quy mô và tốc độ tăng trưởng của cải vật chất phụ thuộc vào quy mô và hiệu quả sử dụng các nguồn lực: như khối lượng lao động và năng suất lao động mà thực chất là tiết kiệm lao động quá khứ và lao động sống trong một đơn vị sản phẩm, trong đó tăng năng suất lao động là vô hạn.
<H5 style="MARGIN: 3pt 0cm">2.1.3.2. Tái sản xuất sức lao động</H5>
Cùng với quá trình tái sản xuất của cải vật chất, sức lao động xã hội cũng không ngừng được tái tạo. trong tất các hình thái kinh tế- xã hội.
Tái sản xuất sức lao là quá trình bổ sung sức lao động cả về số lượng và chất lượng cho quá trình tái sản xuất.
* Tái sản xuất sức lao động về mặt số lượng chịu sự chi phối của nhiều yếu tố:
+ Quy luận nhân khẩu, tốc độ tăng nhân khẩu tỷ lệ thuận với số cung về sức lao động của quá trình tái sản xuất xã hội.
+ Xu hướng thay đổi công nghệ, cơ cấu, số lượng và tính chất của lao động (thủ công, cơ khí, tự động hoá). Sự thay đổi công nghệ luôn tỷ lệ nghịch với cung về số lượng sức lao động.
+ Năng lực tích luỹ vốn để mở rộng sản xuất của mỗi quốc gia ở từng thời kỳ. Năng lực tích lũy tăng, nghĩa là đầu tư thêm vốn để mở rộng sản xuất dẫn đến hai xu hướng về cầu số lượng sức lao động. Mở rộng sản xuất nhưng không đổi mới công nghệ thì cầu về số lượng sức lao động tăng , nhưng mở rộng sản xuất đi kèm với đổi mới công nghệ theo xu hướng hiện đại thì cầu về số lượng sức lao đông có xu thế giảm
* Tái sản xuất mở rộng sức lao động về mặt chất lượng thể hiện ở sự tăng lên về thể lực và trí lực của người lao động qua các chu kỳ sản xuất.
Nhân tố ảnh hưởng tới tái sản xuất sức lao động về chất lượng
+ Mục đích của nền sản xuất của mỗi xã hội (xây dựng một nền sản xuất hiện đại tiên tiến hay sản xuất nhỏ lạc hậu).
+ Chế độ phân phối sản phẩm và vị trí của người lao động đối với lợi ích kinh tế, đó là điều kiện, là yêu cầu để nâng cao thể lực và trí lực của người lao động.
+ Tiến bộ của khoa học- công nghệ yếu tố này buộc người lao động phải được tăng cường về chất lượng mới đáp ứng được cho quá trình sản xuất.
+ Chính sách giáo dục- đào tạo của mỗi quốc gia sẽ thể hiện việc đầu tư đào tạo người lao động theo hướng coi trọng đào tạo nguồn nhân lực cho quá trình tái sản xuất hay không
<H5 style="MARGIN: 3pt 0cm">2.1.3.3. Tái sản xuất quan hệ sản xuất</H5>
Nền sản xuất xã hội chỉ có thể diễn ra trong những quan hệ sản xuất nhất định. Quá trình tái sản xuất ra của cải vật chất và sức lao động gắn liền với tái sản xuất quan hệ sản xuất.
Quá trình tái sản xuất của cải vật chất (tái sản xuất tư liệu sản xuất, và tư liệu tiêu dùng) cùng với tái sản xuất sức lao động như vậy đã là tái sản xuất lực lượng sản xuất. Sau mỗi chu kỳ sản xuất quan hệ giữa người với người về sở hữu tư liệu sản xuất, về quản lý và phân phối sản phẩm được củng cố, phát triển và hoàn thiện hơn, làm cho quan hệ sản xuất thích ứng với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất tạo điều kiện để nền sản xuất xã hội ổn định và phát triển.
<H5 style="MARGIN: 3pt 0cm">2.1.3.4. Tái sản xuất môi trường sinh thái</H5>
Sản xuất của cải vật chất là quá trình con người tác động vào tự nhiên, khai thác các vật thể của tự nhiên, đáp ứng nhu cầu cho cá nhân và xã hội. Dẫn đến kết quả:
* Tài nguyên thiên nhiên có nguy cơ cạn kiệt (đất đai canh tác bị bạc màu, tài nguyên rừng, khoáng sản, biển không khôi phục kịp với tốc độ khai thác, các nguồn nước ngầm bị cạn kiệt)
* Sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp làm cho môi trường thiên nhiên bị ô nhiễm (đất, nước, không khí).
Vì vậy, tái sản xuất môi trường sinh thái là điều kiện tất yếu của mọi quốc gia và cả loài người đang quan tâm nhằm đảm bảo sự ổn định và phát triển bền vững phải được thể hiện trong chính sách đầu tư và pháp luật của mỗi quốc gia.
__________________
Trả Lời Với Trích Dẫn
Những người đã cám ơn bài viết của pd_truong ở trên:
  #15  
Old 09-08-2006
huongttl106cn301's Avatar
huongttl106cn301 huongttl106cn301 is offline
Member
 
Tham gia ngày: Aug 2006
Nơi Cư Ngụ: Vietnam
Bài gởi: 68
Thanks: 7
Thanked 21 Times in 6 Posts

Level: 7 [♥ Bé-Yêu ♥♥ Bé-Yêu ♥♥ Bé-Yêu ♥♥ Bé-Yêu ♥♥ Bé-Yêu ♥]
Life: 0 / 153
Magic: 22 / 3623
Experience: 15%

Send a message via Yahoo to huongttl106cn301
Default



câu hỏi 1: theo Mác: tư bản là tiền, là vật nhưng bản chất không phải là tiền hay vật mà là một quan hệ xã hội, quan hệ bóc lột lao động làm thuê. bạn hiểu câu đó ntn.


câu hỏi 2: So sánh cơ chế kinh tế cũ và kinh tế mới ở việt nam. Sự chuyển đổi cơ chế kinh tế ở nước ta hiện nay còn những tồn tại và khó khăn gì?


Rất mong thầy cô và các bạn giúp đỡ.


__________________
sáo sậu
"Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình"
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #16  
Old 09-13-2006
pd_truong's Avatar
pd_truong pd_truong is offline
Senior Member
 
Tham gia ngày: Nov 2005
Nơi Cư Ngụ: Vietnam
Bài gởi: 318
Thanks: 1
Thanked 125 Times in 45 Posts

Level: 16 [♥ Bé-Yêu ♥]
Life: 0 / 391
Magic: 106 / 10104
Experience: 67%

Default



Cảm ơn chị Lê Thị Thanh Hương (đoán vậy) đã post câu hỏi. Chúng tôi sẽ nghiên cứu và trả lời câu hỏi của chị trong thời gian sớm nhất


Chúng tôi rất mong nhận được nhiều hơn nữa các câu hỏi khác


Trân trọng cảm ơn
__________________
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #17  
Old 09-13-2006
pd_truong's Avatar
pd_truong pd_truong is offline
Senior Member
 
Tham gia ngày: Nov 2005
Nơi Cư Ngụ: Vietnam
Bài gởi: 318
Thanks: 1
Thanked 125 Times in 45 Posts

Level: 16 [♥ Bé-Yêu ♥]
Life: 0 / 391
Magic: 106 / 10104
Experience: 67%

Default



Chúng tôi gửi các anh chị em sinh viên các câu hỏi thường gập
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">Câu 1: Phân tích khái niệm thị trường và chức năng của thị trường[/b]
Thứ nhất: Phân tích khái niệm thị trường
Sản xuất hàng hoá gắn liền với thị trường. Thị trường là lĩnh vực trao đổi, mua bán mà ở đó các chủ thể kinh tế thường xuyên tác động với nhau để xác định giá cả và sản lượng
Thị trường gắn liền với địa điểm, và rộng hơn nữa là không gian trao đổi mua bán, gắn với các yếu tố đầu vào và đầu ra của sản xuất hàng hoá và gắn liền với cung cầu hàng hoá, gắn liền với sự hình thành, phát triển của sản xuất, lưu thông hàng hoá và lưu thông tiền tệ
Thị trường có vai trò to lớn thúc đảy sự phát triển mở rộng sản xuất và lưu thông hàng hoá. Một nền kinh tế hàng hoá chỉ có thể phát triển mạnh mẽ khi có đủ các dạng thị trường như thị trường hàng tiêu dùng, thị trường tư liệu sản xuất, thị trường sức lao động và dịch vụ, thị trường tiền tệ, thị trường khoa học công nghệ, thị trường chứng khoán
Thứ hai: Các chức năng của thị trường
- Thừa nhận (hoặc không thừa nhận) giá trị sử dụng xã hội (chất lượng) của hàng hoá, xác định mức độ giá trị của hàng hoá được thực hiện. Chức năng này gắn với vai trò của khách hàng, nghĩa là giá trị sử dụng và giá trị của hàng hoá có được thị trường thừa nhận hay khong. Chỉ có trên thị trường và thông qua thị trường các vấn đề trên mới đượckhẳng định. Khi sản phẩm tiêu thụ được (bán được) nghĩa là được xã hội thừa nhận. Ngược lại, nếu hàng hoá không bán được nghĩa là hoặc do chất lượng kém, quy cách, mẫu mã không thích hợp, cung lớn hơn cầu hoặc giá cả quá cao., nên không được xã hội thừa nhận
- Cung cấp thông tin cho người sản xuất và người tiêu dùng. thị trường chỉ r những biến động về nhau cầu xã hội, số lượng, giá cả, cơ cấu và xu hướng thay đổi của nhu cầu các loại hàng hoá, dịch vụ
- Kích thích và hạn chế sản xuất và tiêudùng. Trên thị trường mọihàng hoá đều bán và mua theo giá cả thị trường, thông qua chức năng cung cấp thông tin về mức giá, thị trường giúp chongười sản xuất ra các quyết định điều chỉnh mở rộng hay thu hẹp sản xuất và giúp người tiêu dùng lựa chọn việc tiêu dùng sao cho phù hợp với các thông số của thị trường và sức mua của mình. Bằng cách đó, thị trường có tác dụng kích thích và hạn chế sản xuất và tiêu dùng
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">Câu 2: Phân tích tính tất yếu khách quan và tác dụng của công nghiệp hoá, hiện đại hoá[/b] nền kinh tế quốc dân ở nước ta
Thứ nhất: tính tất yếu khách quan: Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biết sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển4 của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ tạo ra năng suất lao động xã hội cao
Công nghiệp hoá hiện đại hoá là tất yếu khách quan trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta vì:
+ Nước ta là một nước quá độ lên CNXH với xuất phát điểm còn phổ biến là nền sản xuất nhỏ, chưa qua giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản. Để có được cơ sở vật chất - Kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, không có con đường nào khác phải tiến hành

<B style="mso-bidi-font-weight: normal">Câu 1: Phân tích đặc điểm cơ bản của cách mạng khoa học công nghệ và sự hình thành nền kinh tế tri thức[/b]
Thứ nhất: Đặc điểm của cách mạng khoa học công nghệ
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang diễn ra hiện nay được phát triển trên cơ sở của cách mạng khoa học kỹ thuật với 5 nội dung chủ yếu sau
Một: Tự động hoá sản xuất: Ngoài ba bộ phận phát lực, chuyển lực và máy công tác đã xuất hiện trong thời kỳ cách mạng công nghiệp trước đây, ngày nay còn có bnộ phận thứ tư - tựy điều khiển. Từ đó ra đời ngành kinh tế thức ba là dịch vụ và ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong GDP
Phát triển nguồn năng lượng mới: năng lượng nguyên tử, năng lượng mặt trời, năng lượng hidro
Phát triển các loại vật liệu mới: vật liệu nhân tạo có đầy đủ tính mong muốn như composit, gốm zincon, gốm siêu dẫn nhiệt độ cao
Phát triển công nghệ sinh học: công nghệ gen, công nghệ vi sinh
Phát triển công nghệ cao, nhất là công nghệ điện tử, tin học, công nghệ siêu nhỏ, công nghệ này mở ra thời đại mới kinh tế tri thức
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ có hai dặc điểm chủ yếu
Một là: Khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Tức là giữa khoa học và ứng dụng đưa vào sản xuất kinh doanh không còn khoảng cách thời gian. Đòi hỏi cần phải có chính sách đầu tư cho khoa học công nghệ thích hợp
Hai là: Thời gian để một phát minh mới ra đời thay thế phát minh cũ có xu hướng ngày càng rút ngắn những phạm vi ảnh hưởng ngày càng rộng hơn. Điềunày đổi hỏi các chính phủ phải gắn chiến lược phát triển kinh tế - xã hội với xu hướng biến đổi của cách mạng khoa học công nghệ
Sự hình thành kinh tế tri thức
Từ thập niên 80 thế kỷ XX lại đây, nền kinht ế thế giới chuyển mnạh mẽ sang phát triển kinh tế tri thức. Đây là một đặc trưng mới và nổi bật của thời đại ngày nay. Kinh tế tri thức là kiểu tổ chức kinh tế trong đó sự sản sinh, phổ cập (truyền bá) và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống. Kinh tế tri thức được hình thành trên cơ sở sự phát triển cao của lực lượng sản xuất dưới tác động của cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, nhất là công nghệ thông tin, công nghệ điệnt ử, công nghệ chất lượng cao và công nghệ sinh học
Kinh tế tri thức là trình độ phát triển cao của lực lượng sản xuất xã hội, theo đó trong quá trình lao động của từng người và toàn xã hội, trong từng sản phẩm và trong tổ sản phẩm chứa đựng chủ yếu giá trị của lao động trí tuệ, tức là hàm lượng tri thức chiếm ưu thế



__________________
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #18  
Old 09-23-2006
phongnh206dt136's Avatar
phongnh206dt136 phongnh206dt136 is offline
Junior Member
 
Tham gia ngày: Aug 2006
Nơi Cư Ngụ: Vietnam
Bài gởi: 9
Thanks: 0
Thanked 1 Time in 1 Post

Level: 1 [♥ Bé-Yêu ♥]
Life: 0 / 21
Magic: 3 / 515
Experience: 86%

Default



Câu 1: Phân tích quan điểm giữ vững độc lập tụ chủ đi đôi với chủ động và tích cực hội nhập KTQT?


Câu 2: Đẩy mạnh CNH,HĐHgắn liền với phát triển kinh tế trí thức ?
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #19  
Old 09-25-2006
loanttk205qt083's Avatar
loanttk205qt083 loanttk205qt083 is offline
Junior Member
 
Tham gia ngày: Feb 2006
Nơi Cư Ngụ: Vietnam
Bài gởi: 6
Thanks: 0
Thanked 0 Times in 0 Posts

Level: 1 [♥ Bé-Yêu ♥]
Life: 0 / 11
Magic: 2 / 296
Experience: 47%

Default



Em muốn tìm tài liệu về :


1) cơ cấu kinh tế ngành Bưu điện hiện nay và xu hướng chuyển dịch của cơ cấu kinh tế ngành bưu điện.


2) cơ chế kinh tế cũ và mới ở Việt Nam. Sự chuyển đổi cơ chế kinh tế ở nứớc ta hiện nay còn những tồn tại và khó khăn gì.


Mong các thầy cô, anh chị có tư liệu hoặc trang web nào có cung cấp tư liệu trên, chỉ bảo giúp em với.
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #20  
Old 09-29-2006
nhunglt105qt077's Avatar
nhunglt105qt077 nhunglt105qt077 is offline
Moderator
 
Tham gia ngày: Dec 2005
Nơi Cư Ngụ: Vietnam
Bài gởi: 1,203
Thanks: 60
Thanked 112 Times in 49 Posts

Level: 30 [♥ Bé-Yêu ♥♥ Bé-Yêu ♥♥ Bé-Yêu ♥♥ Bé-Yêu ♥♥ Bé-Yêu ♥]
Life: 0 / 730
Magic: 401 / 18759
Experience: 22%

Send a message via ICQ to nhunglt105qt077
Default



Em có câu hỏi này mong thầy cô và các bạn giúp đỡ !


Câu 1:
So sánh hai phương pháp cơ bản sản xuất giá trị thặngdư. Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này? Và tại sao nói quy luật giá trị thặng dư là quyluật Kinh tế cơ bản của CNTB?


Em mong nhận đc câu trả lời nhanh nhất từ Thầy cô ! Edited by: nhunglt105qt077
__________________
Trả Lời Với Trích Dẫn
Những người đã cám ơn bài viết của nhunglt105qt077 ở trên:
Gởi Ðề Tài Mới  Trả lời


Ðiều Chỉnh
Xếp Bài

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn
Bạn không được quyền gởi bài
Bạn không được quyền gởi trả lời
Bạn không được quyền gởi kèm file
Bạn không được quyền sửa bài

vB code đang Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt
Chuyển đến



Powered by: vBulletin Version 3.6.7 Copyright © 2000 - 2014, Jelsoft Enterprises Ltd.
Múi giờ GMT. Hiện tại là 08:09 PM.