Tên người dùng: Mật mã:
Câu lạc bộ sinh viên

TIN TỨC

Sách Bài giảng (ebook) các môn học đã có

Tra cứu điểm các môn học|Hướng dẫn

Các bài thi thử trắc nghiệm trực tuyến

Ngân hàng đề thi các môn học



Go Back   Câu lạc bộ sinh viên > Diễn đàn các môn học > Môn đại cương > Triết học Mác - Lênin

Gởi Ðề Tài Mới  Trả lời
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
  #101  
Old 09-10-2006
nhunglt105qt077's Avatar
nhunglt105qt077 nhunglt105qt077 is offline
Moderator
 
Tham gia ngày: Dec 2005
Nơi Cư Ngụ: Vietnam
Bài gởi: 1,203
Thanks: 60
Thanked 112 Times in 49 Posts

Level: 30 [♥ Bé-Yêu ♥♥ Bé-Yêu ♥♥ Bé-Yêu ♥♥ Bé-Yêu ♥♥ Bé-Yêu ♥]
Life: 0 / 730
Magic: 401 / 18947
Experience: 22%

Send a message via ICQ to nhunglt105qt077
Default




Trích:
Nguyên văn bởi halt106qt243
cho em hooi la` mon triet bai tap dieu kien toi thieu phai lam bao nhieu trang ???? em xin cam on


Kỳ 1 tớ làm bài thu hoạch Môn Triết thì quy định 10 trang . Nhưng giờ tớ thấy ko có quy định ở links bài điều kiện của các bạn :


http://www.e-ptit.edu.vn/hoctap/BTDK/K2/BAITAPDK.htm


Thế nên bạn cứ làm tốt và cảm thấy đầy đủ bài của mình là tốt rồi !Quan trọng là chất lượng bài viết bạn ạ !


Chúc bạn sớm hoàn thành tốt bài ĐK !
__________________
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #102  
Old 09-11-2006
ngandtt205dt906's Avatar
ngandtt205dt906 ngandtt205dt906 is offline
Junior Member
 
Tham gia ngày: Sep 2006
Nơi Cư Ngụ: Vietnam
Bài gởi: 3
Thanks: 0
Thanked 1 Time in 1 Post

Level: 1 [♥ Bé-Yêu ♥]
Life: 0 / 2
Magic: 1 / 64
Experience: 10%

Send a message via Yahoo to ngandtt205dt906
Default

Thày, hoặc bạn nàolàm ơn gợi ý cho em câu: Vì sao nói hát triển là một cuộc đấu tranh của các mặt đối lập? Hãy nêu một số loại mâu thuẫn của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay
Trả Lời Với Trích Dẫn
Những người đã cám ơn bài viết của ngandtt205dt906 ở trên:
  #103  
Old 09-11-2006
pd_truong's Avatar
pd_truong pd_truong is offline
Senior Member
 
Tham gia ngày: Nov 2005
Nơi Cư Ngụ: Vietnam
Bài gởi: 318
Thanks: 1
Thanked 125 Times in 45 Posts

Level: 16 [♥ Bé-Yêu ♥]
Life: 0 / 391
Magic: 106 / 10205
Experience: 67%

Default



Bài tập điều kiện môn Triết học là do sinh viên tự làm, tuy nhiên càng làm hay, càng phân tích kỹ thì số lượng trang sẽ nhiều lên và bài làm có chất lượng hơn


Số lượng trang, thì Nhà trường không khống chế, đó là do sinh viên tự làm. Tuy nhiên theo tôi nghĩ, mỗi câu hỏi triết học sinh viên lên viết tối thiểu 02 mặt giâyA4


Xin chân thành cảm ơn ý kiến của anh, chị sinh viên
__________________
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #104  
Old 09-11-2006
chaunh105qt206's Avatar
chaunh105qt206 chaunh105qt206 is offline
Junior Member
 
Tham gia ngày: Aug 2006
Bài gởi: 15
Thanks: 0
Thanked 4 Times in 3 Posts

Level: 2 [♥ Bé-Yêu ♥♥ Bé-Yêu ♥]
Life: 0 / 40
Magic: 5 / 977
Experience: 62%

Default

<B style="mso-bidi-font-weight: normal">- Trình bày v[/b]<B style="mso-bidi-font-weight: normal">ai trò của triết học trong đời sống xã hội?[/b]<B style="mso-bidi-font-weight: normal">
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">- Những điều kiện cho sự phát sinh và phát triển của triết học Ấn Độ cổ đại. Đặc điểm của triết học Ấn Độ cổ đại.[/b]<B style="mso-bidi-font-weight: normal">
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">-Những tư tưởng cơ bản của Phật giáo Ấn độ cổ đại và ảnh hưởng của nó ở nước ta.[/b][/b][/b]Edited by: chaunh105qt206
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #105  
Old 09-11-2006
pd_truong's Avatar
pd_truong pd_truong is offline
Senior Member
 
Tham gia ngày: Nov 2005
Nơi Cư Ngụ: Vietnam
Bài gởi: 318
Thanks: 1
Thanked 125 Times in 45 Posts

Level: 16 [♥ Bé-Yêu ♥]
Life: 0 / 391
Magic: 106 / 10205
Experience: 67%

Default

* Tồn tại trong mối quan hệ với thế giới xung quanh, dù muốn hay không con người cũng phải nhận thức thế giới và nhận thức bản thân mình. Những tri thức này cùng với niềm tin vào nó dần dần hình thành nên thế giới quan.
* Thế giới quan là nhân tố định hướng cho quá trình hoạt động sống của con người. Thế giới quan như một thấu kính qua đó con người xác định mục đích, ý nghĩa cuộc sống và lựa chọn cách thức đạt mục đích đó.
* Trình độ phát triển của thế giới quan là tiêu chí quan trọng về sự trưởng thành của mỗi cá nhân cũng như mỗi cộng đồng nhất định.
* Triết học ra đời với tư cách là hạt nhân lý luận của thế giới quan, làm cho thế giới quan phát triển như một quá trình tự giác dựa trên sự tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và tri thức do các khoa học đưa lại. Đó là chức năng thế giới quan của triết học.
+ Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm là cơ sở lý luận của hai thế giới quan cơ bản đối lập nhau. Chính vì vậy chúng đóng vai trò là nền tảng thế giới quan của các hệ tư tưởng đối lập. Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong triết học biểu hiện bằng cách này hay cách khác cuộc đấu tranh giữa những giai cấp, những lực lượng xã hội đối lập nhau.
Do vậy:
+ Thế giới quan đúng đắn là tiền đề để xác lập nhân sinh quan tích cực giúp cho con người sáng tạo trong hoạt động.
+ Thế giới quan sai lầm làm cho con người sống thụ động hoặc sai lệch trong hoạt động.
+ Việc nghiên cứu triết học giúp ta định hướng hoàn thiện thế giới quan.
Phương pháp luận là lý luận về phương pháp; là hệ thống quan điểm có tính nguyên tắc chỉ đạo việc tìm tòi, xây dựng, lựa chọn và vận dụng các phương pháp.
* Triết học thực hiện chức năng phương pháp luận chung nhất
+ Tri thức triết học là hệ thống tri thức chung nhất về thế giới và vai trò con người trong thế giới, nghiên cứu các qui luật chung nhất chi phối cả tự nhiên, xã hội và tư duy.
+ Mỗi luận điểm triết học đồng thời là một nguyên tắc trong việc xác định phương pháp, là lý luận về phương pháp.
Việc nghiên cứu triết học giúp ta có được phương pháp luận chung nhất, trở nên năng động sáng tạo trong hoạt động phù hợp với xu thế phát triển chung
Triết học Mác - Lênnin kế thừa và phát triển những thành tựu quan trọng nhất của tư duy triết học nhân loại. Nó được C.Mác và Ph. Ăngghen sáng tạo ra và V.I.Lênin phát triển một cách xuất sắc. Đó là chủ nghĩa duy vật biện chứng trong việc xem xét giới tự nhiên cũng như xem xét đời sống xã hội và tư duy con người.
* Với tư cách là một hệ thống nhận thức khoa học có sự thống nhất hữu cơ giữa lý luận và phương pháp: triết học Mác-Lênin như Lê nin nhận xét: Là một chủ nghĩa duy vật triết học hoàn bị và là một công cụ nhận thức vĩ đại, triết học Mác-Lênin là cơ sở triết học của một thế giới quan khoa học, là nhân tố định hướng cho hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, là nguyên tắc xuất phát của phương pháp luận.
+ Trong triết học Mác - Lênin, lý luận và phương pháp thống nhất hữu cơ với nhau. Chủ nghĩa duy vật là chủ nghĩa duy vật biện chứng và phép biện chứng là phép biện chứng duy vật. Sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng làm cho chủ nghĩa duy vật trở nên triệt để, và phép biện chứng trở thành lý luận khoa học; nhờ đó triết học mácxít có khả năng nhận thức đúng đắn cả giới tự nhiên cũng như đời sống xã hội và tư duy con người.
+ Nắm vững triết học Mác-Lênin không chỉ là tiếp nhận một thế giới quan đúng đắn mà còn là xác định một phương pháp luận khoa học. Nguyên tắc khách quan trong sự xem xét đòi hỏi phải biết phân tích cụ thể theo tinh thần biện chứng, đồng thời nó ngăn ngừa thái độ chủ quan tuỳ tiện trong việc vận dụng lý luận vào hoạt động thực tiễn.
* Trong quan hệ với các khoa học cụ thể, mối quan hệ giữa triết học Mác- Lênin và các khoa học cụ thể là mối quan hệ biện chứng, cụ thể là: các khoa học cụ thể là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển của triết học. Đến lượt mình, triết học Mác- Lênin cung cấp những công cụ phương pháp luận phổ biến, định hướng sự phát triển của các khoa học cụ thể. Mối quan hệ này càng đặc biệt quan trọng trong kỷ nguyên cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ.
Chính vì vậy, để đẩy mạnh phát triển khoa học cụ thể cũng như bản thân triết học, sự hợp tác chặt chẽ giữa những người nghiên cứu lý luận triết học và các nhà khoa học khác là hết sức cần thiết. Điều đó đã được chứng minh bởi lịch sử phát triển của khoa học và bản thân triết học.
Ngày nay trong kỷ nguyên cách mạng khoa học công nghệ, sự gắn bó càng trở nên đặc biệt quan trọng. Trong kỷ nguyên này, cuộc đấu tranh chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm không bị thủ tiêu mà vẫn tiếp tục diễn ra với những nội dung và hình thức biểu hiện mới. Trong tình hình đó, lý luận triết học sẽ trở nên khô cứng và lạc hậu, nếu không được phát triển dựa trên sự khái quát khối tri thức hết sức lớn lao của khoa học chuyên ngành. Ngược lại, nếu không đứng vững trên lập trường duy vật khoa học và thiếu tư duy biện chứng thì đứng trước những phát hiện mới mẻ người ta có thể mất phương hướng và đi đến kết luận sai lầm về triết học.
Tuy nhiên, triết học Mác không phải là đơn thuốc vạn năng chứa sẵn mọi cách giải quyết các vấn đề đặt ra trong hoạt động nhận thức cũng như hoạt động thực tiễn. Để có thể tìm lời giải đáp đúng đắn cho những vấn đề đó, bên cạnh tri thức triết học cần có hàng loạt những tri thức khoa học cụ thể cùng với những tri thức kinh nghiệm do cuộc sống tạo nên một cách trực tiếp ở mỗi con người. Thiếu tri thức đó, việc vận dụng những nguyên lý triết học không những khó mang lại hiệu quả, mà trong nhiều trường hợp có thể còn dẫn đến những sai lầm mang tính giáo điều.
Do vậy, trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, chúng ta cần tránh cả hai thái cực sai lầm:
+ Xem thường triết học sẽ sa vào tình trạng mò mẫm, dễ bằng lòng với những biện pháp cụ thể nhất thời, đi đến chỗ mất phương hướng, thiếu nhìn xa trông rộng, thiếu chủ động và sáng tạo trong công tác;
+ Tuyệt đối hóa vai trò của triết học sẽ sa vào chủ nghĩa giáo điều, áp dụng một cách máy móc những nguyên lý, những quy luật vào từng trường hợp riêng mà không tính đến tình hình cụ thể trong từng trường hợp riêng và kết quả dễ bị vấp váp, thất bại.
Bồi dưỡng thế giới quan duy vật và rèn luyện tư duy biện chứng để phòng và chống chủ nghĩa chủ quan, tránh phương pháp tư duy siêu hình, đó vừa là kết quả vừa là mục đích trực tiếp của việc nghiên cứu lý luận triết học nói chung, triết học Mác - Lênin nói riêng.<B style="mso-bidi-font-weight: normal"> [/b]
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">[/b]
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">- Những điều kiện cho sự phát sinh và phát triển của triết học Ấn Độ cổ đại. Đặc điểm của triết học Ấn Độ cổ đại.[/b]
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">[/b]
+ Những điều kiện:
- Điều kiện địa lý.
- Điều kiện kinh tế - xã hội
- Những thành tựu của khoa học - văn hoá.
+ Những đặc điểm cơ bản của triết học Ấn độ cổ đại.
- Triết học có sự đan xen với tôn giáo - là đặc điểm lớn nhất.
- Triết học thường tôn trọng và có khuynh hướng phục cổ.
- Triết học thể hiện ở trình độ tư duy trừu tượng cao khi giải quyết vấn đề bản thể luận.
+ Hai trường phái triết học:
- Trường phái triết học chính thống (trường phái thừa nhận kinh Vêda) - kể tên 6 trường phái.
- Trường phái triết học không chính thống (trường phái không thừa nhận kinh Vêda) - kể tên 3 trường phái.
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">- Những tư tưởng cơ bản của Phật giáo Ấn độ cổ đại và ảnh hưởng của nó ở nước ta.[/b]
Phật tổ giảng giáo lý của mình bằng truyền miệng (kinh không chữ). Sau khi Ngài tịch, các học trò nhớ lại và viết thành Tam tạng chân kinh (kinh, luật, luận), qua đó thể hiện những tư tưởng cơ bản của Phật giáo trên hai phương diện: bản thể luận và nhân sinh quan:
+ Về bản thể luận: Phật giáo đưa ra tư tưởng vô thường, vô ngã và luật nhân quả.
+ Về nhân sinh quan: Phật giáo đưa ra tư tưởng luân hồi và nghiệp báo, tứ diệu đế, thập nhị nhân duyên và niết bàn.
+ Đánh giá những mặt tích cực của Phật giáo:
Phật giáo là một tôn giáo. Vì vậy, nó có những hạn chế về thế giới quan và nhân sinh quan. Song, với thái độ khách quan, chúng ta cần nhận thức những yếu tố tích cực trong tư tưởng triết học Phật giáo:
- Từ khi xuất hiện tới nay, Phật giáo là tôn giáo duy nhất lên tiễng chống lại thần quyền.
- Những tư tưởng của Phật giáo có những yếu tố duy vật và biện chứng.
- Phật giáo tích cực chống chế độ đẳng cấp khắc nghiệt, tố cáo bất công, đòi tự do tư tưởng và bình đẳng xã hội; nói lên khát vọng giải thoát con người khỏi những bi kịch cuộc đời.
- Đạo phật nêu cao thiện tâm, bình đẳng, bác ái cho mọi người như là những tiêu chuẩn đạo đức cơ bản của đời sống xã hội.
+ Ảnh hưởng của phật giáo tới Việt nam:
- Phật giáo du nhập vào nước ta từ những năm đầu công nguyên, và phát triển phù hợp với truyền thống Việt <st1:country-region><st1lace>Nam</st1lace></st1:country-region>.
- Ảnh hưởng của Phật giáo với nước ta khá toàn diện:
* Trở thành quốc giáo ở các triều đại: Đinh, Lê, Lý, Trần góp phần kiến lập và và bảo vệ chế độ phong kiến tập quyền, giữ vững nền độc lập dân tộc.
* Trước đây, Phật giáo có công trong việc đào tạo tầng lớp trí thức cho dân tộc: có nhiều vị tăng thống, thiền sư, quốc sư có đức độ, tài năng giúp nước an dân như: Ngô Chân Lưu, Pháp Nhuận, Vạn Hạnh, Viên Thiếu, Không Lộ...
* Bản chất từ bi hỷ xả ngày càng thấm sâu vào đời sống tinh thần dân tộc, rèn luyện tư tưởng tu dưỡng đạo đức, vì dân, vì nước.
* Vào thời cực thịnh, Phật giáo là nền tảng tư tưởng trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, chính trị, văn hoá, giáo dục, khoa học, kiến trúc, hội hoạ... nhiều tác phẩm văn học có giá trị, nhiều công trình kiến trúc độc đáo, đậm đà bản sắc dân tộc có tầm cỡ quốc tế của Việt Nam phần lớn được xây dựng vào thời kỳ kỳ này. Từ cuối thế kỷ XIII tới nay, Phật giáo không còn là quốc giáo nữa nhưng những giá trị tư tưởng tích cực của nó vẫn còn là nhu cầu, sức mạnh tinh thần của nhân dân ta...
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">[/b]
Edited by: pd_truong
__________________
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #106  
Old 09-11-2006
sonha106dt248's Avatar
sonha106dt248 sonha106dt248 is offline
Senior Member
 
Tham gia ngày: Jul 2006
Nơi Cư Ngụ: Vietnam
Bài gởi: 306
Thanks: 0
Thanked 23 Times in 15 Posts

Level: 16 [♥ Bé-Yêu ♥]
Life: 0 / 383
Magic: 102 / 9252
Experience: 35%

Send a message via Yahoo to sonha106dt248
Default



chào các thầy cô


em được biết là xã hội chủ nghĩa là một xã hội không có giai cấp ở đó con người sống bình đẳng với nhau không có giai cấp thống trị và giai cấp bị trị,conngười ai cũng như ai bìnhđẳng về mọi phương diện (nghĩa là một xã hội không có nhà nước). như vậy nước ta chưa là một nước xã hội chủ nghĩa . em muốn hỏi thầy cô là nước ta bao giờ thì trở thành một nước xã hội chủ nghĩa và liệu xã hội chủ nghĩa có hơi viễn tưởng không ạ
__________________
Ti Ni Đồng Bo Nghe R Khng
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #107  
Old 09-12-2006
pd_truong's Avatar
pd_truong pd_truong is offline
Senior Member
 
Tham gia ngày: Nov 2005
Nơi Cư Ngụ: Vietnam
Bài gởi: 318
Thanks: 1
Thanked 125 Times in 45 Posts

Level: 16 [♥ Bé-Yêu ♥]
Life: 0 / 391
Magic: 106 / 10205
Experience: 67%

Default



Trong thời gian vừa qua, tôi thấy số lượng người đặt các câu hỏi cho diễn đàn hơi ít. Chúng tôi rất mong nhận được ngày càng nhiều câu hỏi hơnnữa của các anh chị em sinh viên hệ đại học từ xa


Chúng tôi cũng sẽ đưa lên diễn đàn một số câu hỏi mà sinh viên thường gặp phải trong các đề thi hết môn để các anh chị sinh viên cùng tham khảo
__________________
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #108  
Old 09-13-2006
pd_truong's Avatar
pd_truong pd_truong is offline
Senior Member
 
Tham gia ngày: Nov 2005
Nơi Cư Ngụ: Vietnam
Bài gởi: 318
Thanks: 1
Thanked 125 Times in 45 Posts

Level: 16 [♥ Bé-Yêu ♥]
Life: 0 / 391
Magic: 106 / 10205
Experience: 67%

Default

Câu hỏi
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">1- Tại sao chỉ nghiên cứu triết học phương đông cổ đại?[/b]
trả lời:
Trước hết ta cần thấy câu hỏi trên chỉ là câu hỏi có ý nghĩa khi đặt nó trong điều kiện cụ thể của môn học triết học mác lê nin chương trình đại học. Nghĩa là việc nghiên cứu tư tưởng triết học nói chung và triết học phương đông nói riêng không phải với tư cách một môn học nghiên cứu về lịch sử tư tưởng triết học, mà chỉ là sự lược khảo lịch sử đó nhằm mục đích <B style="mso-bidi-font-weight: normal">sáng tỏ một cách khái quát có tính phổ biến [/b]của sự nảy sinh và các khuynh hướng khác nhau trong việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học
Sau nữa ta cũng cần thấy <B style="mso-bidi-font-weight: normal">một số đặc điểm khác biệt[/b] trong cách tiếp cận của triết học phương đông so với triết học phương Tây.
Một là triết học phương đông nhấn mạnh mặt thống nhất trong mối quan hệ giữa con người và vũ trụ.Do đó vấn đề bản thể luận trong triết học phương đông thường mờ nhạt, triết học phương đông nghiên cứu thế giới cũng chỉ nhằm làm sáng tỏ vấn đề con người, hơn nữa chỉ là mặt xã hội, mặt tâm linh tinh thần. Phương Tây thì ngược lại, nó tách con người ra khỏi thế giới, con người là chủ thể, thế giới là khách thể, là đối tượng cần nghiên cứu chinh phục, bởi vậy trong triết học phương tây vấn đề bản thể luận rất đậm nét, sâu sắc.
Hai là triết học phương đông ít khi tồn tại dưới dạng triết học thuần tuý, mà thường ẩn dấu đằng sau các vấn đề chính trị - xã hội, đạo đức, tôn giáo , nghệ thuật
Ba là triết học phương đông đặt trọng tâm vào việc giải quyết mặt thứ hai của vấn đề cơ bản của triết học, mặt thứ nhất nếu có đề cập thì cũng chỉ được coi như vấn đề có liên quan, có tác dụng giải thích bổ xung cho mặt thứ hai mà thôi.
Tóm lại, với một số đặc điểm trên thì toàn bộ nội dung của các vấn đề triết học ta thấy nó đã được đặt ra một tương đối có hệ thống và đầy đủ trong triết học phương đông cổ đại. Triết học phương đông trung, cận đại sau này chỉ còn là sự tiếp thu, chú giải làm phong phú thêm những tinh thần cơ bản (của cổ đại)theo hơi thở thời đại mà thôi.
Cũng chính bởi lẽ đó mà triết học phương đông không có bước phát triển nhảy vọt về chất có tính vạch thời đại.
Cho nên nắm vững được những nội dung tư tưởng của triết học phương đông cổ đại là đủ để ta có thể hình dung được một cách khái quát những vấn đề cơ bản của tư tưởng triết học của phương đông.
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">2- Tại sao trong lịch sử việt nam thì phật giáo có nhiều công lao đóng góp, nhưng trong triết học phật giáo lại kết luận nó là duy tâm mà duy tâm thì có tác động tiêu cực[/b]
Trả lời
Trước hết để trả lời câu hỏi này ta cần làm r triết học phật giáo có phải hoàn toàn duy tâm hay không? Hơn nữa khi kết luận nó duy tâm thì tác động tiêu cực của nó được xét ở bình diện nào? Sau đó ta tìm hiểu đóng góp gì, trong điều kiện nào trong lịch sử việt nam?
Nghiên cứu triết học phật giáo ta thường đề cập tới hai mặt: Bản thể luận và triết lý nhân sinh. Về bản thể luận, với 3 phạm trù duyên khởi, vô thường, vô ngã và sự luận giải về 3 phạm trù này ta thấy triết học phật giáo nguyên thuỷ có tính biện chứng và duy vật chất phác.
Như vậy, khi ta nói triết học phật giáo là duy tâm thì ta cần phải hiểu là nó duy tâm khi bàn về triết lý nhân sinh và con đường giải thoát sự khổ của đời người. Như vậy ở bình diện triết học thì tác động tiêu cực của triết học phật giáo là ở chỗ tạo ra một cách nhìn bi quan yếm thế về cuộc đời, thủ tiêu tính tích cực trong việc nhận thức và cải tạo xã hội. Tuy nhiên, ở một khía cạnh nào đó trong điều kiện nhất định thì triết lý phật giáo cũng có một giá trị đạo đức nhất định đó là tính từ bi hỷ xả, nó khuyên bảo con người bỏ điều ác, tích điều thiện. Cũng chính bởi điều đó mà phật giáo trở thành một thứ tôn giáo có tính quần chúng rộng rãi trong điều kiện xã hội còn nhiều điều xấu xa, phi nhân tính.
Khi khẳng định phật giáo có nhiều công lao đối với lịch sử việt nam, thì ta cũng cần hiểu r 2 điểm:
Thứ nhất phật giáo du nhập vào việt nam không còn là phật giáo nguyên thuỷ, mà bản thân phật giáo sau này có nhiều trường phái hơn nữa khi du nhập nó còn chịu sự qui định bởi những điều kiện lịch sử văn hoá- xã hội cụ thể, tức là nó có sự khúc xạ nhất định bởi chủ thể nhất định. Điều đó được minh chứng qua sự khác nhau giữa phật giáo đại thừa ở miền bắc và phật giáo tiểu thừa ở miền nam.
Thứ hai nói đến công lao của phật giáo đối với lịch sử việt nam chủ yếu là ta nói tới sự đóng góp của phật giáo trong sự nghiệp chống giặc ngoại xâm giành độc lập dân tộc. Ở điểm này ta cần lưu ý là mỗi tín đồ phật giáo cũng đồng thời là con dân đất việt, và một thời phật giáo còn được coi là quốc giáo, hơn nữa như trên đã nói tư tưởng của phật giáo có điểm tương đồng với tư tưởng giữ nước là trừ ác, bảo vệ chính nghĩa. Trong 2 cuộc kháng chiến của dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng hàng triệu tín đồ phật giáo có cả chức sắc tôn giáo đã hy sinh vì sự nghiệp giành và bảo vệ độc lập dân tộc.
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">3- làm r hơn đường lối Đêmôcrit và đường lối Platon trong triết học và ảnh hưởng của nó?[/b]
Trả lời
Đối với câu hỏi này tôi xin giới hạn vấn đề cần làm r đó là tại sao lại gọi là đường lối và lại gắn với hai đại biểu là Đêmôcrit và Platon mà không trình bày những nội dung triết học cụ thể của từng đại biểu vì sách đã trình bày cụ thể.
Ta gọi là đường lối Đêmôcrit và đường lối duy tâm trong triết học vì những lý do sau đây:
- Trong quá trình nảy sinh, phát triển tư tưởng triết học thì triết học của đêmôcrit và Platon không còn là những tư tưởng triết học rời rạc tản mạn, không đầy đủ mà đã là những học thuyết tương đối hoàn chỉnh.
- Nội dung học thuyết triết học của hai ông đã bao quát được đầy đủ các khía cạnh, các vấn đề đặt ra cần nhận thức ở bình diện triết học. Có thể nói ngay ở thời kỳ cổ đại thì triết học của hai ông đã mang một hình thức, một dáng dấp của triết học hiện đại.
- Trong việc giải quyết các nội dung vấn đề cơ bản của triết học và các vấn đề liên quan thì tư tưởng của hai ông đã thể hiện được đây là hai khuynh hướng cơ bản đối lập nhau đó là khuynh hướng , lập trường duy vật và duy tâm, mà hai khuynh hướng lập trường đó đã được thể hiện xuyên suốt, chi phối toàn bộ quá trình phát triển của tư tưởng triết học sau này.
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">4- Hạt nhân hợp lý của hêghen mà mác kế thừa[/b]
Trả lời
Triết học Hêghen, xét về toàn bộ thì đó là một hệ thống triết học duy tâm khách quan có tính chất tư biện và thần bí. Tư tưởng chính trị trong hệ thống triết học này là bảo thủ và cực kỳ phản động. Tuy vậy, nếu nghiên cứu kỹ toàn bộ hệ thống triết học này bao gồm ba bộ phận: Logic học, triết học tự nhiên, triết học tinh thần, đặc biệt là logic học của Heghen thì người ta lại có thểe tmf thấy những hạt nhân hợp lý nhũng tư tưởng thiên tài về Phép biện chứng. Đó là chỗ mà ông đã vượt xa các bậc tiền bối của mình, kể cả người gần nhất là E. Cantơ.
Trong hệ thống triết học của mình, Heghen quan niẹm thế giới như một khối thống nhất, trong đó các sự vật hiện tượng tồn tại trong mối liên hệ phổ biến , vận động và phát triển không ngừng. Động lực của sự vânm động và phát triển đó là sự tác động qua lại của các mặt đối lập- tức là mâu thuẫn biện chứng nội tại.
Heghen đã trình bày và phát triển những qui luật cơ bản của phép biện chứng: Qui luật mau thuẫn, qui luật lượng đổi chất đổi, qui luật phủ định của phủ định, qua đó làm nổi bật lên được nguồn gốc, động lực, phương thức, con đường và khuynh hướng của sự phát triển khách quan. đặc biệt Heghen đã trình bày một cáhc rất tài tình về phép biện chứng của các khái niệm và qua đó dự đoán biện chứng của hiện thực.
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">5- Phân tích r hơn về mâu thuẫn trong triết học của Hêghen[/b]
Trả lời
Có thể nói một cách khái quát là: mâu thuẫn trong triết học Hêghen chính là mâu thuẫn giữa hệ thống và phương pháp mâu thuẫn giữa phép biện chứng có tính cách mạng với chủ nghĩa duy tâm bảo thủ thần bí.
- Một mặt, phép biện chứng của hêghen khẳng định sự phát triển không ngừng của của Ýniệm tuyệt đối; nhưng mặt khác, lại lại coi triết học của mình là điểm tận cùng trong sự phát triển của ý niệm tuyệt đối.
- Một mặt hêghen khẳng định nhận thức là một quá trình phát triển chứa đầy mâu thuẫn; nhưng mặt khác ông lại coi triết học của mình là viên mãn kết thúc triết học như là chân lý tuyệt đối không thể phát triển hơn được nữa
- Một mặt hêghen thừa nhận tính phổ biến và khách quan của mâu thuẫn; song mặt khác ông lại coi triết học của mình như là một hệ thống hoàn toàn hài hoà, không còn mâu thuẫn. Khi có mâu thuẫn cần giải quyết thì ông không sử dụng phương pháp đấu tranh mà lại chủ trương điều hoà, dung hoà mâu thuẫn. Điều này phản ánh một tình hình, một tâm trạng của giai cấp tư sản Đức đầy mâu thuẫn- vừa muốn cách mạng, lại vừa sợ cách mạng.
Chính vì những mâu thuẫn phức tạp trong triết học hêghen- mâu thuẫn giữa yếu tố cách mạng, khoa học và yếu tố bảo thủ, duy tâm, cho nên khi nghiên cứu cần quán triệt quan điểm biện chứng duy vật để kế thừa có tính phê phán, lọc bỏ cải tạo trên nguyên tắc: Kế thừa cấc nhân tố hợp lý; phê phán loại bỏ các yếu tố lạc hậu.
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">6- tại sao lại nói triết học phơ bách gọi là duy vật trực quan[/b]
Trả lời
Triết học của phơbách là triết học trực quan vì: Tuy Ông quan niệm thế giới là vật chất, thế giới tự nhiên tồn tại khách quan độc lập với ý thức của con người và không lệ thuộc vào bất kỳ một lực lượng nào có tính siêu nhiên - tức là ông là một nhà triết học duy vật. Nhưng Ông lại không nhận thấy rằng, chính thế giới vật chất tự nhiên ấy cũng là đối tượng hoạt động cải tạo của con người, và còn là thế giới đã được sáng tạo lại theo nu cầu của con người bằng chính những hoạt động mang tính vật chất của con người (mà Mác gọi là thế giới tự nhiên thứ hai). Trong việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học, cụ thể vấn đề nguồn gốc và bản chất của ý thức, Phơbách chưa lý giải được một cách r ràng và chính xác bởi lẽ Ông không thấy được rằng ý thức xuất hiện là một quá trình nhận thức gắn liền với quá trình hoạt động cải tạo thế giới, nói khác đi là ông không hiểu được hoạt động thực tiễn xã hội của con người, không hiểu vai trò của thực tiễn sản xuất trong quá trình nhận thức và cải tạo thế giới, thậm chí ông còn hạ thấp và coi thường thực tiễn như là những hoạt động tầm thường có tính chất con buôn. Tóm lại triết học của Phơ bách chưa thoát khỏi tính chất máy móc siêu hình của chủ nghĩa duy vật cũ. Triết học Phơ bách mới chỉ là triết học nhìn ngắm, giải thích thế giới chứ chưa phải là triết học cải tạo thế giới, và cũng mới chỉ duy vật về tự nhiên còn trong lịch sử -xã hội lại là duy tâm.
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">[/b]
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">[/b]
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">[/b]
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">7- tại sao gọi triết học phơ bách là chủ nghĩa nhân bản[/b]
Trả lời
Triết học Phơ bách là triếta học nhân bản vì: Nếu như triết học của Heghen dựa trên nền tảng ý niệm tuyệt đối, một thứ ý thức trừu tượng phi nhân tính thì triết học của Phơ bách lại dựa trên cơ sở và nền tảng sự tồn tại của chính con người. Trong triết học Phơ bách không còn có sự tách rời giữa tinh thần và thể xác, giữa vật xchất và ý thức. Vật chất không còn là một dạng tồn tại khác của ý thức như Heghen quan niệm. Theo phơ bách thì ý thức chỉ là một thuộc tính đặc biệt của vật chất, của bộ óc con người. Vì vậy triết học của phơ bách được gọi là triết học nhân bản hay chủ nghĩa nhân bản.
Tuy nhiên ta cũng cần thấy rằng quan niệm nhân bản của Phơ bách còn có hạn chế - hạn chế lớn nhất, là ở chỗ ông hiểu chưa đúng về con người, coi con người chỉ như một thực thể tự nhiên thuần tuý mang bản chất tộc loại, mà không thấy được bản chất xã hội của con người, không thấya được vai trò của mối quan hệ giữa con người với nhau qui định nên bản chất của họ. Do đó, quan niệm về bản chất con người vẫn mang tính trừu tượng phi hiện thực. Chính vì điều hạn chế này mà Phơ bách đã trượt từ chủ nghĩa duy vật trong quan niệm về tự nhiên sang chủ nghĩa duy tâm trong quan niệm về xã hội.
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">8- tại sao nói chủ nghĩa duy vật phơ bách là duy vật đỉnh cao[/b]
Trả lời
Cần nói chính xác, đầy đủ lại là: chủ nghĩa duy vật của Phơ bách là chủ nghĩa duy vật đỉnh cao, và chỉ là đỉnh cao so với toàn bộ chủ nghĩa duy vật trước Mác. Về điều này xin nêu nhận xét, đánh giá khái quát của Ănghen về Phơ bách:
- Trong khi phê phán triết học Heghen (đỉnh cao của triết học duy tâm- duy tâm triệt để), Phơ bách đã khẳng định: Giới tự nhiên tồn tại độc lập với ý thức; con người là sản phẩm của tự nhiên; ý thức chỉ là một thuộc tính đặc biệt của vật chất, bộ óc con người; ngoài tự nhiên và con người ra thì không còn có gì khác cả, không có thế giới nào khác ngoài thế giới tự nhiên và thế giới con người; Tôn giáo chỉ là sự phản ánh hư ảo chính bản chất của con người.
Tuy nhiên khi phê phán Heghen, thì Phơ bách đã phạm phải một sai lầm là không thấy rằng: sự phê bình phải tiêu diệt hình thức của nó và cứu lấy cái nội dung mới mà nó thu được. Nghĩa là Phơ bách đã không thấy được và do đó không tiếp thu được những yếu tố hợp lý trong triết học của Heghen là phép biện chứng có tính cách mạng.
- Mặt khác, Phơ bách hoàn toàn đúng khi ông nói rằng chủ nghĩa duy vật của chỉ riêng khoa học tự nhiên là cơ sở của kiến trúc của tri thức nhân loại, nhưng không phải là bản thân kiến trúc đó. Vì chúng ta không những chỉ sống trong tự nhiên, mà còn sống ở trong xã hội loài ngườiDo đó, nhiệm vụ là làm cho khoa học về xã hộihoà hợp với cơ sở duy vật, và xây dựng lại khoa học về xã hội, phù hợp với cơ sở đó.
Tuy nhiên Ănghen nói rằng Phơ bách đã không hoàn thành được nhiệm vụ đó, rằng trong lĩnh vực lịch sử thì Phơ bách vẫn hoàn toàn duy tâm. Ănghen đã đã chỉ r khi chúng ta nghiên cứu tới triết học tôn giáo là luân lý học của Phơ bách, thì chúng ta mới thấy r ràng chủ nghĩa duy tâm thực sự của ông ta.
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">9- thực chất và ý nghĩa cách mạng của triết học Mác[/b]
Trả lời
- Sự ra đời của triết học mác là một tất yếu do yêu cầu khách quan của một thời đại mới. Một mặt đó là đòi hỏi phải có một tư duy mới, phương pháp luận mới đáp ứng được yêu cầu của quá trình tổng kết tri thức khoa học thực nghiệm, chuyển hình thái khoa học lên một trình độ mới khoa học lý thuyết. Điều đó không thể thực hiện được bởi tư duy siêu hình hay phép biện chứng duy tâm của hêghen. Mặt khác, sự đòi hỏi của phong trào cách mạng của một lực lượng xã hội đại diện cho thời đại mới là giai cấp vô sản về một lý luận cách mạng soi sáng, khi mà tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng và tư tưởng dân chủ tư sản tỏ r các mặt hạn chế. Triết học Mác ra đời là một cuộc cách mạng có tính bước ngoặt trong lịch sử phát triển tư tưởng triết học.
- Thực chất bước ngoặt cách mạng trong triết học do Mác- ănghen thực hiện đó là kết hợp thống nhất giữa tính cách mạng và tính khoa học, nó khác với triết học truyền thống là chỉ giải thích thế giới, triết học Mác không chỉ giải thích đúng đắn, khoa học về thế giới mà nó còn chỉ ra phương pháp cách mạng để cải tạo thế giới một cách có hiệu quả. Trung tâm của các hệ thống triết học trước Mác không phải là thực tiễn, khôngphải là hoạt động nhằm cái tạo thế giới mà chủ yếu là hoạt động tinh thần quan sát giải thích, Mác coi đó là khuyết điểm lớn nhất của toàn bộ triết học trước. Lần đầu tiên triết học Mác đã đưa phạm trù thực tiễn vào triết học, coi nó là trung tâm của lý luận, và vạch ró lý luận chỉ thực sự có sức mạnh khi nó liên hệ với thực tiễn. Triết học Mác kiên quyết chống chủ nghĩa kinh nghiệm và chủ nghĩa giáo điều trong triết học. Lần đầu tiên trong quá trình phát triển triết học, Triết học Mác đã khắc phục được sự tách rời giữa thế giới quan duy vật và phép biện chứng, hơn nữa còn khắc phục được hạn chế của chủ nghĩa duy vật cũ duy vật trong lĩnh vực tự nhiên nhưng lại duy tâm trong lĩnh vực xã hội.
- Ý nghĩa: Triết học Mác trở thành thế giới quan khoa học triệt để cách mạng
+ Làm sáng tỏ mối quan hệ giữa triết học với các khoa học cụ thể, xác định nhiệm vụ của triết học là thực hiện chức năng thế giới quan và phương pháp luận.
+ Trở thành hệ tư tưởng vũ khí tinh thần của giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh thực hiện nội dung sứ mệnh lịch sử của nó.
<B style="mso-bidi-font-weight: normal">10- tại sao lại gọi là triết học mác lê nin [/b]
Trả lời
Có thể vắn tắt: Ta thấy Mác và ănghen là hai nhà sáng lập, đề xuất, cần khẳng định công lao lao đó là thuộc về cả hai ông. Còn việc chỉ lấy tên Mác thì đó là xuất phát từ nguyện vọng của Ănghen. Còn việc ghép tên Lê nin là do công lao suất sắc của Lê nin trong việc <B style="mso-bidi-font-weight: normal">bảo vệ [/b]và <B style="mso-bidi-font-weight: normal">phát triển [/b]nhiều luận điểm triết học Mác, hơn nưa là sự suy tôn của hậu thế (các nước Xã hội chủ nghĩa) về việc vận dụng một cách suất sắc trong thực tế chủ nghĩa Mác mà Lênin là người tiên phong.
__________________
Trả Lời Với Trích Dẫn
  #109  
Old 10-26-2006
phongdt206cn677's Avatar
phongdt206cn677 phongdt206cn677 is offline
Junior Member
 
Tham gia ngày: Oct 2006
Nơi Cư Ngụ: Vietnam
Bài gởi: 3
Thanks: 0
Thanked 3 Times in 1 Post

Level: 1 [♥ Bé-Yêu ♥]
Life: 0 / 2
Magic: 1 / 63
Experience: 10%

Thumbs down Câu hỏi và câu trả lời môn Triết

Trả Lời Với Trích Dẫn
Có 3 thành viên đã cảm ơn bài viết của phongdt206cn677:
  #110  
Old 10-30-2006
trangltt206qt576's Avatar
trangltt206qt576 trangltt206qt576 is offline
Junior Member
 
Tham gia ngày: Oct 2006
Nơi Cư Ngụ: Vietnam
Bài gởi: 1
Thanks: 0
Thanked 0 Times in 0 Posts

Level: 1 [♥ Bé-Yêu ♥]
Life: 0 / 0
Magic: 0 / 0
Experience: 0%

Send a message via Yahoo to trangltt206qt576
Default

thầy ơi cho em hỏi : Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề cơ bản của triết học là sao. Em chưa hiểu về nó
Trả Lời Với Trích Dẫn
Gởi Ðề Tài Mới  Trả lời


Ðiều Chỉnh
Xếp Bài

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn
Bạn không được quyền gởi bài
Bạn không được quyền gởi trả lời
Bạn không được quyền gởi kèm file
Bạn không được quyền sửa bài

vB code đang Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt
Chuyển đến



Powered by: vBulletin Version 3.6.7 Copyright © 2000 - 2014, Jelsoft Enterprises Ltd.
Múi giờ GMT. Hiện tại là 12:48 AM.